Monday, 16 July 2012

Tín hiệu vui từ Hadai Bhang Champa (Trại Hè Champa) 2012


Ngày 7 tháng 7 năm 2012 tại thành phố King City, tiểu bang California đã có một Hadai Bhang Champa đầy ý nghĩa, ấn tượng, và khó quên. Hơn 300 người Chăm từ khắp các tiểu bang tại Hoa Kỳ cùng đến tham gia, vượt đường xa, quên cái nắng, cái rét, cùng nhau làm nên một Hadai Bhang Champa 2012 thành công tuyệt vời.

Cùng vời những trò chơi sôi động, các cháu có dịp ôn lại bài hát cộng đồng, các điệu trống ginang, tiếng nói chữ viết của cha ông Champa. Nhiều dân tộc di trú đến Mỹ đã quên tiếng mẹ đẻ và trở thành người Mỹ. Nhìn con cháu chúng ta nói chuyện, và vui chơi, nỗi lo mất gốc đã níu các cha mẹ ngồi lại với nhau cùng với bao câu hỏi được đưa ra, bàn bạc trong tương kính, thân thương mưu tìm những điều tốt đẹp cho cộng đồng Champa. Một số ý kiến sơ khởi được đưa ra cũng xin được chia sẻ:

1/. Chấp nhận khác biệt: Chúng ta cần tồn tại và phát triển, do đó chúng ta cần HỢP TÁC với các cộng đồng trong và ngoài Champa. Nhiều hội đoàn xã hội và tôn giáo là điều tự nhiên của mỗi cộng đồng. Người Việt hay người Champa ở Mỹ cũng đều như vậy, mỗi nhóm tự quyết định giải pháp của mình để bảo tồn và phát triển. Để hợp tác được tốt trong các hoạt động chung như Hadai Bhang Champa các thành viên cần hiểu biết, thông cảm cho sự khác biệt và tôn trọng nhau. Ví dụ: có ý kiến cho rằng “tôi không đồng ý với Ban Biên Soạn, hay Hội Bảo Tồn…” không còn phù hợp vì thể hiện sự không chấp nhận khác biệt. Nói “không đồng ý...” là không cần thiết, đó chính là rào cản cho sự hợp tác. Mỗi địa phương hay cá nhân có quyền chọn phương án để con cháu họ khỏi bị đồng hóa. Để diển tả tiếng Cham, ở Ninh Bình Thuận chọn mẫu tự Akhar Thrah, Tây Ninh, Châu Đốc và Campuchia chọn mẫu tự Jawi, và Cham Bình Định, Phú Yên chọn mẫu tự Latinh, là khác biệt cần tôn trọng. Đối với cộng đồng Champa tại Mỹ, yêu thương (anit ranam), tôn trọng (pôk ja) và thông cảm tha thứ (neh xari) sẽ bẻ gẫy những rào cản vô hình giữa các cá nhân và hội đoàn tạo tiền đề cho Champa ở Mỹ thành cộng đồng vững mạnh.

2/. Vai trò của nhà khoa học: Để việc bảo tồn và phát triển được tốt, chúng ta cần các nhà khoa học như là những cố vấn chuyên môn. Nhà khoa học đưa ra những giải pháp tốt nhất, khách quan, khả thi và hiệu quả nhất cho những vấn đề quan tâm. Những kết luận đó sẽ được công chúng, nhà hoạt động xã hội, chính trị đánh giá đúng sai và áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của cá nhân, cộng đồng mình. Nếu nhà khoa học nào tự khen nghiên cứu mình là chân lý khách quan nhất, chê bai và thậm chí còn lên án kết án những quan điểm và ý kiến khác với họ, là vì không tự tin vào phương án của họ. Hữu xạ tự nhiên hương, nếu lý thuyết nào đó đúng đắn thì tức khắc sẽ được chọn lựa. Nếu không tự tin chúng ta nên nghiên cứu lại để được đúng đắn hơn. Vai trò của nhà khoa học là đưa ra giải pháp để, công chúng và nhà hoạt động xã hội, đánh giá đúng sai, quyết định làm hay không làm.

3/. Vai trò của nhà hoạt động xã hội: Là những lãnh tụ các tổ chức, hội đoàn, họ chăm lo cho sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng. Họ có quyền cùng các thành viên bàn bạc và quyết định chọn giải pháp cho bảo tồn và phát triển cộng đồng. Giải pháp đó không bi chi phối bởi nhà khoa học. Nếu điều này bị vi phạm, thì lợi ích của cộng đồng đó đang bị thiệt hại, và cộng đồng đó đang phục vụ cho lợi ích riêng của nhà khoa học. Vận mệnh của một cộng đồng do chính họ tự quyết định sau khi tham khảo ý kiến của nhiều nhà khoa học để được khách quan và hiệu quả nhất.

Qua tín hiệu vui từ trại hè này, hy vọng cộng đồng Champa chúng ta biết rõ phải làm gì để chúng ta thương yêu nhau, tôn trọng nhau, và tha thứ thông cảm cho nhau nhiều hơn, mở ra một vận hội mới, phát triển bền vững cho cộng đồng và cho dân tộc. Nếu có những gì đã qua không vui, xin hãy để cho nó qua đi. Vì tương lai dân tộc Champa, chúng ta đồng hành với nhau trong một tinh thần mới: yêu thương (anit ranam), tôn trọng (pôk ja) và tha thứ (neh xari). Hẹn gặp tại Hadai Bhang Champa Sacramento 2013.

Ths. Quang Can
 

Saturday, 2 June 2012

Chương trình tiếng Cham tại Việt Nam và hạn chế cần khắc phục

PhD candidate. Quang Can

Lời mở: Việt Nam đã có những thành tích đáng kể trong công cuộc bảo vệ và phát triển tiếng nói chữ viết của các dân tộc thiểu số. Bằng chứng hiển nhiên là những chương trình đang hiện hành được cho là rất có hiệu quả như chương trình tiếng tiếng Cham trước đây và sau này là chương trình tiếng tiếng Khmer và Hoa trong nhà trường phổ thông. Thêm vào đó các hoạt động đó xuất phát từ những kiên định chính sách của chính phủ, được quy định rõ ràng trong các điều khoản của hiến pháp và các thông tư, nghị định của chính phủ. Nhất là gần đây với sự kiện thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 1576/QĐ - Ttg vào ngày 30/11/2006 thành lập Vụ giáo dục dân tộc thuộc Bộ giáo dục đào tạo; và ra đời hàng loạt các phòng Giáo dục Dân tộc thuộc các sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh thành phố. Hơn thế nữa là nghị định 82/2010/NĐ-CP được ký ban hành vào ngày 15-07-2010 và thông tư liên tịch 50/2011/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định được ký vào ngày 03-11-2011 quy định khá cụ thể việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX). Bằng những văn bản pháp qui cụ thể nêu trên, chính phủ Việt Nam đã chính thức khai thông con đường bảo tồn và phát triển tiếng dân tộc được thông thoáng, chuyên ngiệp và bài bản hơn. Song song với tín hiệu đáng mừng đó, nỗi lo thường trực cứ mãi ám ảnh những người đang thực hiện chương trình tiếng Cham, do sự bất cập kéo dài giữa các văn bản quy định và sự chỉ đạo thực hiện; sự chênh lệch giữa việc thực hiện chương trình tiếng Cham và các chương trình tiếng dân tộc khác. Thực chất điều này đã gây hại cho những thành quả đã đạt được, vô tình gây lãng phí lớn tiền bạc của chính phủ và công sức của các em học sinh (HS) Cham, và nhất là làm mất long tin của đồng bào Cham với những điều tốt đẹp mà chính phủ đã dành cho dân tộc Cham. Để hiểu rõ thực trạng và tác hại của những bất cập này, thử nhìn lại cấu trúc và mục tiêu của cách chương trình song ngữ tại Việt Nam, đối chiếu với những thành tựu về lý luận và thực tiển trong lĩnh vực giáo dục tiếng mẹ đẻ hầu tìm ra mô hình hiệu quả, và khả thi cho giáo dục tiếng Cham trong nhà trường.

Mục tiêu của chương trình giảng dạy tiếng mẹ đẻ: Thông thường mục tiêu của chương trình song ngữ hay tiếng mẹ đẻ là: (1) giúp HS dân tộc thiểu số học tốt tiếng phổ thông; (2) bảo tồn tiếng mẹ đẻ của dân tộc thiểu số. Tùy thuộc vào nội dung và mô hình cấu trúc của các chương trình mà chúng ta có thể nhận ra những mục tiêu chi tiết hơn nhưng vẫn quy vào mục đích cuối cùng là thực hiện chỉ mục tiêu (1) hay cả (1) và (2). Để thực hiện muc tiêu (1), chương trình thường chỉ kéo dài nhiều nhất là 1 đến 3 năm, nội dung tương ứng với chương trình trong tiếng phổ thông, từ 2 tiết đến 4tiết /tuần. Ví dụ: như các chương trình song ngữ chuyển tiếp hay quá độ (transitional program) dạy lại các bài tương ứng, các môn học tương ứng bằng tiếng mẹ đẻ của HS. Buổi học từ 1 đến 4 tiết/tuần, có thể kéo dài một học kỳ, hay nhiều hơn cho đến khi nào HS đủ khả năng tham gia trực tiếp các lớp đó bằng tiếng phổ thông; thường kéo dài không quá 3 năm (Ovando, 2003). Ngược lại, để thực hiện mục tiêu (1) và (2), bảo tồn tiếng mẹ đẻ và học tốt chương trình tiếng phổ thông. Chương trình chiếm ít nhất 4 tiết,hay một buổi, hay nhiều nhất là 5 buổi/tuần và thường phải kéo dài từ 9 đến 12 năm. Thời lượng chương trình từ 4 tiết /tuần cho đến toàn thời gian học bằng tiếng mẹ đẻ, ngoại trừ 4 tiết tiếng phổ thông hằng tuần. Nội dung các môn học cập nhật từ chương trình tiếng phổ thông (Ovando, 2003; Slaughter, 1997). Ví dụ như chương trình một buổi học/ tuần bằng tiếng Hoa, Mã, hay Tamil cho HS thiểu số, cùng với chương trình phổ thông bằng tiếng Anh tại Singapore từ lớp 1 đến hết cấp trung học (Singgapore Education, 2003); Chương trình toàn thời gian tiếng Hawaiì, trong trường phổ thông Anuenue Hawaiian Immersion School tại tiểu bang Hawaiì, Hoa Kỳ từ lớp mẫu giáo đến 12 học chương trình phổ thông bằng tiếng Hawaii. (Baker, 2006)

Chương trình tiếng mẹ đẻ tại Việt Nam:

Tiếng Êđê: Chương trình tiếng Êđê được bắt đầu dạy trong trường phổ thông từ năm 1995. Năm học 2010-2011, hầu hết các huyện, thị xã, thành phố đã có 76 trường TH, 497 lớp, 11.052 HS, 97 GV (tăng 89 GV so với lúc mới triển khai vào những năm 1995-1996, 3 trường, 5 lớp và 138 HS) dạy học bằng tiếng Êđê. Bậc THCS (các trường phổ thông dân tộc nội trú) đã có 12 trường, 35 lớp, 1.414 HS, tăng gấp đôi số trường so với năm học 2003-2004. Các huyện Cư M’gar, Krông Năng và TP. Buôn Ma Thuột là những địa phương có số trường, lớp và HS học tiếng Êđê đông nhất. Hiện nay đội ngũ giáo viên (GV) dạy tiếng Êđê thiếu và yếu, thường phải dạy kiêm nhiệm, mỗi giáo viên phụ trách khoảng 10 lớp. Tiếng Êđê còn được dạy cho cán bộ và giáo viên tại các TTGDTX (Anh, 2012).

Tiếng Hoa: Chương trình tiếng Hoa được chính phủ chú ý vào những năm 1995. HS được học môn tiếng Hoa tự chọn bậc tiểu học tại TPHCM, Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ và Hậu Giang, từ 3 đến 5 tiết/ tuần. Sau Nghị định 82/2010/ND-CP của thủ tướng, thời lượng được tăng lên 8-10 tiết/tuần. Tiếng Hoa bậc THCS đã thực hiện 4 tiết/tuần, nay đang dạy học thí điểm để chuẩn hóa thống nhất sách giáo khoa. Thường GV chủ nhiệm kiêm luôn việc dạy tiếng Hoa ở bậc tiểu học (Dinh, 2011).

Tiếng Khmer: Chương trình tiếng Khmer được bắt đầu từ năm 1992, được dạy từ cấp mẫu giáo đến lớp 12 tại các tỉnh có đông người Khmer cư trú ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam thuộc các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, và Bến Tre. Tiểu học tiếng Khmer được dạy 4 tiết/ tuần, cấp trung học 2 tiết/tuần. GV dạy tiếng Khmer thiếu về số lượng, mỗi GV phải đảm nhận từ 4 đến 5 lớp. Ngoài ra còn có các lớp Khmer miễn phí tại các Chùa Khmer, và các TTGDTX cho các đối tượng có nhu cầu học tập và nghiên cứu tiếng Khmer. GV dạy tiếng Khmer bậc tiểu học được đào tạo 3 tháng ở các trường cao đẳng và GV dạy bậc THCS và THPT đang đào tạo chuẩn theo chương trình đại học sư phạm (Dinh, 2011).

Tiếng Cham: Chương trình dạy tiếng Cham được thực hiện rất sớm, từ năm 1978, thí điểm và chuẩn chính tả Akhar Thrah rất thận trọng trong 10 năm. Hoàn chỉnh trước khi nhân rộng ra đại trà từ năm 1990 tại các trường tiểu học vùng Cham thuộc hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Hiện nay chương trình chỉ lên đến lớp 5, với thời lượng 3 tiết (35 phút một tiết học)/tuần. Số lượng HS tại Ninh Thuận năm 2011 là 8265, trong 341 lớp, với số GV phụ trách là 57 trong số tổng số 1051 GV được đào tạo. Do bố trí GV dạy chuyên, có trường một GV phải phụ trách khoảng 10 lớp. Chính sự bố trí GV không hợp lý kéo dài này, từ năm 2004 đã làm GV tiếng Cham không còn động lực nâng cao năng lực và nhiệt tình giảng dạy tiếng Cham. Vì không hy vọng được bố trí dạy tiếng Cham, GV không muốn tham gia các lớp đào tạo và bồi dưỡng GV dạy tiếng Cham. Bằng chứng điển hình là từ năm 2004 đến năm 2012, chỉ có 53 GV tham gia một lớp bồi dưỡng tiếng Cham tại trường đại học Quy Nhơn. Trong khi trước đó hằng năm có ba loại hình đào tạo luôn hoạt động hết công suất, cung cấp khoảng 100 GV tiếng Cham hằng năm. Các lớp tiếng Cham chuyên biệt cho cán bộ và công chức cũng đã thực hiện trên 05 lớp cho hằng trăm lượt học viên (Trai, 2008).

Nhận xét chung: Quả vậy, năm 2010 và 2011 là năm mở ra cơ hội phát triển mạnh mẽ cho các chương trình bảo tồn tiếng mẹ đẻ tại Việt Nam, thông qua Nghị định 82/ ND- CP do thủ tướng ký ngày 17/7/2010, và thông thư 50/2011/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC hướng dẫn thi hành nghị định 82, ký ngày 01/11/2011, quy định rõ ràng và cụ thể mục tiêu, nội dung, mức độ và trách nhiệm thi hành chính sách dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số trong trường phổ thông và TTGDTX. Đây chính là chiến lượt phát triển kinh tế xã hội đúng đắn và sang suốt. Chính kim chỉ nam này đã mở đường cho các chương trình tiếng Hoa và Êđê phát triển hiệu quả và đúng hướng; khẳng định tính đúng đắng của chương trình tiếng Khmer; và chỉ ra một số chương trình còn nhiếu yếu tố bất hợp lý, gây lãng phí lớn công sức của GV, HS và tài sản của chính phủ. Một trong các chương trình đó tỏ ra tụt hậu, đuối sức không theo kịp yêu cầu của đồng bào thiểu số và định hướng của chính phủ là chương trình tiếng Cham. Chương trình tiếng Cham có khiếm khuyết gì, xin được dẫn lời của những người đang thụ hưởng nguồn lợi của chương trình, nhận định của những nhà chuyên môn, và tổng kết của Bộ giáo dục và đào tạo.

Tổng kết của Bộ giáo dục và đào tạo: Theo đánh giá của Hội nghị tổng kết dạy tiếng DTTS trong trường phổ thông, do Bộ GD& ĐT tổ chức tại Nha Trang ngày 14/10/2011. Tại Hội nghị nhận định của Thứ trưởng Bộ GD& ĐT Nguyễn Thị Nghĩa: “Bước ngoặt xoay chuyển sự phát triển mạnh của việc dạy tiếng DTTS là ngày 15/7/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2010/NĐ-CP quy định việc dạy học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở GD phổ thông và trung tâm GD thường xuyên”. Điều kiện để phát triển giáo dục tiếng mẹ đẻ hiện nay hoàn toàn thuân lợi, ngoại trừ: “Khó khăn lớn nhất của công tác dạy học tiếng DTTS hiện nay là đội ngũ GV thiếu và yếu” (Dinh, 2011).

Nhận định của những nhà chuyên môn: Để thành công HS dân tộc cần: thành thạo Kỹ Năng Giao Tiếp Cơ Bản (Basic interpersonnal communicative skills) để giao tiếp tiếng Việt và thành thạo Nhận Thức Ngôn Ngữ Học Thuật (Cognitive academic language proficiency) để tiếp thu kiến thức bằng tiếng phồ thông, tiếng Việt (ngôn ngữ thứ hai). Hai mục tiêu trên đây là mục tiêu di động mà HS Cham phải bắt kịp với HS bản ngữ tiếng Việt (ngôn ngữ thứ hai) (Cummins, 1981, 1982, 1992). Tuy nhiên theo kinh nghiệm thực tiển và nghiên cứu lý thuyết: các kỹ năng, khái niệm, và kinh nghiệm đạt được trong tiếng mẹ đẻ sẽ chuyển hóa sang ngôn ngữ thứ hai (Goldenberg, 2008). Chính vì vậy mà các HS trong chương trình tiếng Cham (tiếng mẹ đẻ) có thành tích học tập tiếng phổ thông tốt hơn các HS khác. Ví dụ: năm học 2010-2011, tỷ lệ HS có điểm trên trung bình môn tiếng Việt lớp 5 tại Thuân Nam là 95%, Ninh Thuận là 94%, tại trường tiểu học Vụ Bổn là 100%; Môn toán tương ứng là: Thuận Nam, 94%, Ninh Thuận, 91%, tại trường tiểu học Vụ Bổn là 100% (số liệu trong báo cáo cuối năm của Sở GDDT Ninh Thuận). Trong khi Kỹ Năng Giao Tiếp Cơ Bản (KNGTCB) và thành thạo Nhận Thức Ngôn Ngữ Học Thuật (NTNNHT) của các em HS Cham cần 6 đến 9 năm mới hoàn thiện. Khi lên đến Trung họ cơ sở (THCS), KNGTCB và NTNNHT của HS Cham chưa ngang bằng với HS bản ngữ Việt. Không có chương trình tiếng Cham cấp THCS tiếp sức, khiến cho cầu nối các kỹ năng, khái niệm, và kinh nghiệm tiếp thu được từ môn tiếng mẹ đẻ không còn nữa. Các em HS Cham gặp khó khăn trong việc tiếp thu các kiến thức trong các môn học tiếng Việt. Điều này hoàn toàn không gặp ở HS Hoa, Khmer, và Êđê, vì các em đó đã có chương trình tiếng mẹ đẻ ở THCS, và THPT hổ trợ.

Nhận định của những người đang thụ hưỡng nguồn lợi của chương trình: Trong nghiên cứu gần đây về tính hiệu quả của chương trình tiếng Cham tại Ninh Thuận cho thấy: cả GV, chuyên gia giáo dục, phụ huynh và HS đều thừa nhận rằng, HS Cham ở bậc THCS học yếu hẳn. Điều này thể hiện qua số liệu kết quả học tập của từng em HS, lớp, trường, xã, huyện và tỉnh. Tỷ lệ các em HS Cham ở lại lớp và bỏ học tăng cao nhất ở bậc học THCS. Phụ huynh các em HS Cham này cũng thừa nhận rằng các em chưa hoàn toàn giao tiếp thông thạo tiếng Việt. Nhiều giải pháp đã được thực hiện là tăng cường phụ đạo như là phụ đạo HS yếu. Thực chất đây là nguyên nhân của rào cản ngôn ngữ, nên các giải pháp nêu trên ít có tác dụng. Nên chăng, theo đề nghị của cộng đồng Cham và các nhà nghiên cứu là áp dụng giải pháp kéo dài chương trình tiếng mẹ đẻ như đã áp dụng cho tiếng Khmer, và Hoa lên đến lớp 9 hay lớp 12 (Phỏng vấn GV, Phụ huynh, HS và trí thức Cham, 2012).

Kết luận: Thành công của chương trình tiếng Cham ở Ninh Thuận và Bình Thuận là một điều rõ ràng và nổi bậc. Mỗi năm chương trình tiếng Cham bổ sung thêm cho cộng đồng Cham hàng ngàn HS thông thạo tiếng Cham. Nó không những góp phần quan trọng và tích cực trong việc bảo tồn tiếng Cham và phát triển giáo dục vùng Cham, mà còn cải thiện tích cực đời sống văn hoá kinh tế xã hội vùng Cham. Đó cũng là góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước. Tuy nhiên để tránh cho HS và GV Cham trở lại tái mù chữ Cham, và cũng là tiếp tục phát triển thành quả giáo dục  đã đạt được ở cấp tiểu học, đã đến lúc phải đưa tiếng Cham vào giảng dạy cho HS Cham cấp THCS và trung học phổ thông (THPT) như nguyện vọng của phụ huynh, HS, GV và cả cộng đồng Cham. Đó cũng là mong ước của Đảng và chính phủ đã cụ thể hóa trong nghị định 82/NĐ-CP và thông tư 50/ TLT-BGDĐT-BNV-BTC, dạy tiếng Cham cho HS Cham cấp THCS, THPT và TTGDTX cho mọi người có nhu cầu học tập và nghiên cứu tiếng Cham. Phòng giáo dục dân tộc Ninh Thuận, đã có sẵn trong tay gần (1) 1000 giáo viên Cham chưa có lớp tiếng Cham để dạy (đào tạo 1051 GV, chỉ sữ dụng 57 GV), (2) kinh nghiệm biên soạn giáo trình cho các đối tượng, trẻ em, người lớn. Điều kiện để phát triển chương trình hoàn toàn thuận lợi như tổng kết của Bộ GDĐT. Nguyện vọng của đồng bào đã hội tụ với ý chí của chính phủ, nhưng tồn đọng và trì trệ vẫn kéo dài. Chưa có dấu hiệu gì cho thấy việc đưa tiếng Cham vào THCS, THPT và TTGDTX thành thí điểm hay hiện thực. Trách nhiệm thuộc về ai? Câu trả lời xin dành cho những nhà quản lý chương trình tiếng Cham, Phòng giáo dục dân tộc, Sở giáo dục & đào tạo và UBND hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, nơi đang thực hiện chương trình tiếng Cham.

Vijaya, Bal Rija Nưgar thun 2012

Phuơl dhar Rija Nưgar Champa 2012

Tài liệu tham khảo:
Anh, N. (2012). Dạy học bằng tiếng dân tộc thiểu số. website: http://gdtd.vn/channel/2762/201201/Day-hoc-bang-tieng-dan-toc-thieu-so-1957491/
Baker, C. (2006). Foundations of bilingual education and bilingualism (4th ed.). In N. H. Hornberger (Ed.). Bilingual Education and Bilingualism. New York: Multilingual Matters Ltd.
Cummins, J. (1981). The role of primary language development in promoting educational success for language minority students. In California State Department of Education (Ed.), Schooling and language minority students: A theoretical framework (pp. 3-49). Los Angeles: National Dissemination and Assessment Center.
Cummins, J. (1982). Tests, achievement, and bilingual students, Focus, No.9. Arlington, VA: National Clearinghouse for bilingual education.
Cummins, J. (1992). Language proficiency, bilingualism, and academic achievement. In P.A. Richard-Amato & M.A. Snow (Eds.), The multicultural classroom: Readings for content-area teachers, (pp. 16-26). New York: Longman.
Đinh, L. Y. (2011). Chuyển biến tích cực trong dạy tiếng dân tộc thiểu số ở trường phổ thông. Website: http://gdtd.vn/channel/2741/201110/Chuyen-bien-tich-cuc-trong-day-tieng-dan-toc-thieu-so-trong-truong-pho-thong-1954299/
Goldenberg, C. (2008). Teaching English language learners: What the research does – and does not – say. American educator, pp. 8-111, 14-16, 17-19, 22-23, 42-43.
Khemrinh. (2012). Sóc Trăng: 50 chỉ tiêu đào tạo ĐHSP ngữ văn Khmer ngữ Nam Bộ. website http://gdtd.vn/channel/2762/201204/Soc-Trang-50-chi-tieu-dao-tao-DHSP-ngu-van-Khmer-ngu-Nam-Bo-1960381/
Ovando, C. J. (2003). Bilingual education in the United States: Historical development and current issues. Bilingual research journal, 27(1), 1-24. Arizona State University. From http://brj.asu.edu/content/vol27_no1/documents/art1.pdf
Slaughter, B. H. (1997). Indigenous language immersion in Hawai’i: A case study of Kula Kaiapuni Hawai’i, an effort to save the indigenous language of Hawai’i. In R. K. Johnson & M. Swain (Eds.), Immersion education: International perspectives (pp. 105-129). Cambridge, UK: Cambridge University Press.
Trai, L. M. (2008). Tình hình dạy và học tiếng Cham ở Ninh Thuận. Báo cáo cuối năm 2008.

Thursday, 17 May 2012

GIỖ PPO NƯGAR MƯBƠK, NÉT ĐẸP VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO

Ts Quang Can
Phía bắc thôn Vụ Bổn (Palei Pabhan) xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, khoảng 3km trên đường đến đập gạch (Binưk Kiak), ở vị trí làng Ma Vớ hay Quí Chánh cũ (Palei Mưbơk), nơi có vết tích của lò gạch dùng để xây tháp Ppo Rome, ngày nay xen lẫn với bạt ngàn rẫy thuốc lá vườn cây ăn trái dọc theo Mương Ngựa (Ribaung Asaih) có một lùm cây rậm rạp rộng khoảng hơn một sào đất, ở giữa có một cây đa cổ thụ gốc phải đến 3 – 4 người ôm, dây leo chằng chịt, tán cây xòe rộng phủ trùm cả một khoảng đất rộng, tạo nên một không khí âm u, huyền ảo, khiến người gan dạ nhất cũng phải kiêng dè khi đi qua vào lúc tối trời. Cùng với rất nhiều mẫu chuyện về sự linh thiêng của ngài, Ppo Mưbơk dần dần được dân trong vùng coi như là thần của địa phương, chỗ dựa cho đời sống tâm linh của người Chăm lẫn Kinh, được thờ phượng đều đặn, long trọng và trang nghiêm.

Nằm dưới tán cây đa rậm rạp là một ngôi đền nhỏ khoảng 16m vuông, cao 4m, mái hình bánh ú, lợp ngói âm dương rêu phong, dáng cong cánh nhạn, đứng vững chải trên bốn trụ trơn đơn giản. Chính giữa đền có một phiến đá kut tượng trưng cho ngài, được tẩy thể và mặt lễ phục vào các ngày cúng giỗ. Theo các cụ già thôn Vụ Bổn kể lại rằng: ngôi đền này được dựng lên vào thời điểm xây dựng tháp Ppo Rome, để ghi nhớ công ơn của người sinh thành ra đấng minh quân này. Ngài là một biểu tượng của thánh mẫu, người mẹ xứ sở vùng Mưbơk phía nam Pangduranga như các bà mẹ xứ sở khác trong vùng Trung Việt.

Có người cho rằng trước đây đền Ppo Nưgar Mưbơk có tượng thờ, do chiến tranh dai dẳng tàn phá và là vùng hẻo lánh nên sự cúng kiếng của dân trong vùng bị gián đoạn. Mãi sau này hậu duệ của ngài là dòng tộc Mưbơk sửa sang lại, dựng tạm đá kut để thờ giống như sự thờ cúng của một dòng tộc. Người am hiểu văn hóa Chăm thì không chấp nhận được đây là kut của dòng tộc Mưbơk, vì không có đá ppo di, đá bên nam, đá bên nữ… như mô hình các kut khác, chỉ duy nhất có một phiến đá tượng trưng cho Ppo Mưbơk. Đây chính là Ppo Nưgar Mưbơk đã bị lớp bụi thời gian và sự nghèo khó kéo dài của dân làng Vụ Bổn làm cho thánh mẫu chỉ là mẫu của một dòng tộc Mưbơk thay vì là mẫu của cả vùng nam Pangduranga như các Ppo Nưgar Hamu Tanran. v.v…

Sự hoang phế kéo dài mãi đến năm 1955 thì có cụ “ông già Nhờ” vì không có con gái, sợ mình sẽ bị tuyệt tự (theo chế độ mẫu hệ của người Chăm), đã khấn cầu với ngài mong có được một người con gái nối dõi và mang điều lành cho gia đình, xin được lợp mái ngói cho ngôi đền. Ngay năm đó vợ chồng cụ sinh được cô Mua, nay cô đã có chồng và con cái vẫn mạnh khỏe, an cư tại thôn Vụ Bổn. Gần đây được hợp tác xã nông nghiệp Vụ Bổn cấp kinh phí, ngôi đền được xây mới, khang trang, tuy không giữ được những nét cũ nhưng 4 cây cột đường kính 35cm được chạm trổ công phu vẫn còn bên đền. Hằng năm vào đầu tháng giêng, vào đầu tháng 4, và đặc biệt là vào dịp lễ Katê đầu tháng 7 theo lịch Chăm, bà con xóm Mưbơk cũ, hay tộc họ Mưbơk hiện còn giữ y trang – lễ phục của ngài, cùng toàn dân làng Vụ Bổn, cư dân các rẫy vườn lân cận (cả người Chăm lẫn người Kinh), ai có khấn cầu thường đem lễ vật dâng cúng trong ba dịp này hằng năm. Theo quy định lễ dâng cúng này gồm 5 mâm cơm và một cặp gà do ông Camưnei (ông Từ) làm chủ lễ, được truyền từ đời này sang đời khác trong dòng tộc Mưbơk; Nay ông Chín thôn Vụ Bổn là ông Từ và gia đình ông đang giữ lễ phục của ngài.

Chẳng có một di ký, hay một bằng chứng rõ ràng nào (có thể là theo chủ quan của người viết) về nguồn gốc của bà. Kẻ cho rằng bà là người làng Mưbơk, người nói bà là mẹ của vua Ppo Rome, người gốc làng Rinhoh (Ninh Hà) Phan Rí tên là Mưwa. Một hôm do ăn trúng đọt lim xanh trong rừng nên có chửa, bị cha mẹ đuổi ra khỏi nhà. Trên đường tìm nơi nương tựa, bà đến ở và sinh hạ Ja Kathaut (tên Ppo Rome khi nhỏ) tại làng Tường Loan, sau đó lần bước đến làng Hamu Biruw (thôn Lạc Trị huyện Tuy Phong) rồi đến trú ngụ, sinh sống tại làng Palei Pabhan.

Để có một kết luận thuyết phục cần thêm điều nghiên của các nhà nghiên cứu về Chăm dựa trên các tài liệu cũ, kể cả lời kể người già, và hoa văn trên y trang – lễ phục của bà hiện còn đang lưu giữ. Duy có một điều chắc chắn rằng bà là người có công lớn đối với địa phương, làm việc từ thiện, lấy việc giúp bà con làm ăn sinh sống đoàn kết hòa thuận giữa Chăm và Bàni làm trọng, đặc biệt là giữa cư dân của 4 làng lân cận trong vùng là: Nha Phân (Palei Pabhan), Chà Vin (Palei Chaping), Ma Vớ hay Quí Chánh (Palei Mưbơk) và Palei Hamu Kalauk, nay dấu tích của kut và thổ mộ (ghur) của các làng đó vẫn còn. Cả 4 làng bị tập trung lại thành làng Vụ Bổn trong thời kỳ ấp chiến lược. Để nhớ công đức lớn đó của bà người đời đã lập đền và thờ phượng.

Theo chủ trương “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” của Đảng và Nhà nước, chính quyền các cấp, các ngành chức năng không ngừng chú ý nghiên cứu, khôi phục lại hình thức lễ hội địa phương. Với quan điểm nhà nước và nhân dân cùng làm, đồng bào và Ban quản lý các thôn cùng góp của, góp công tôn tạo, bảo tồn lại những di sản tinh thần tốt đẹp, tạo môi trường giáo dục và gìn giữ bản sắc độc đáo của cha ông, điều kiện cố kết cộng đồng, đảm bảo hòa nhập vững vàng trước xu thế khu vực hóa đầu thiên kỷ mới, là sự góp phần thúc đẩy quá trình phát triển nhanh các mặt của địa phương được đúng hướng và vững chắc.

* Trong Tagalau03.

Thursday, 22 December 2011

Hội thảo đánh giá chương trình sách giáo khoa tiếng Chăm

Do Vụ Giáo dục dân tộc(Bộ Giáo dục và Đào tạo)tổ chức.

Ngày 26/11/2011, Vụ Giáo dục dân tộc (Bộ Giáo dục và Đào tạo) tổ chức Hội thảo đánh giá chương trình sách giáo khoa tiếng Chăm tại khách sạn Thống Nhất tỉnh Ninh Thuận.
Tham gia Hội thảo, ngoài chuyên viên của Vụ còn có các tác giả bộ sách giáo khoa tiếng Chăm, đại diện Sở giáo dục- Đào tạo, Phòng Giáo dục - Đào tạo, Ban giám hiệu các trường dạy học tiếng Chăm và giáo viên trực tiếp dạy tiếng Chăm ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
Đại biểu đã thảo luận, đánh giá một cách nghiêm túc những ưu điểm, hạn chế chương trình tiếng Chăm tiểu học số 74/2008/QĐ-BGDT ngày 26/12/2008 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Theo đó, chương trình có nhiều ưu điểm, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu dạy học tiếng Chăm cấp tiểu học. Những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ chữ viết Chăm được phân bố vừa phải cho 5 bộ sách từ quyển 1 cho đến quyển 5. Hạn chế lớn nhất của chương trình là việc cân đối các âm vần tiếng Chăm dồn nhiều vào quyển 2 gây khó khăn cho việc tiếp thu của học sinh-đặc biệt là đối với các nơi chỉ dạy 3 tiết/tuần.Thứ tự bài học một số phân môn luyện từ và câu, tập làm văn Chăm 4,5 chưa hợp lý.
Về bộ sách giáo khoa, Hội thảo đã đánh giá cao 5 bộ sách giáo khoa tiếng Chăm cả về hình thức lẫn nội dung. Bộ sách đã triển khai đúng tinh thần chương trình 74/2008/QĐ-BGDT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.Hình thức đẹp, có nhiều tranh minh họa bài học, sách in nhiều màu, chữ in chuẩn theo font vi tính, kích cỡ vừa phải. Cấu trúc bài học đảm bảo tính khoa học và yêu cầu về sư phạm. Nội dung bài học có nhiều cải tiến, tinh chọn. Ngữ liệu các bài học chủ yếu là những kiến thức thông dụng, gần gũi với cuộc sống của đồng bào Chăm. Các từ khóa,câu khóa, câu ứng dụng, các bài tập đọc đã vận dụng những câu thơ, câu văn, ca dao, đồng dao, tục ngữ, thành ngữ của đồng bào Chăm, có nội dung gần gũi với cuộc sống hằng ngày của học sinh Chăm.
Hội thảo đề nghị nhà xuất bản cần chỉnh sửa một số sai sót do lỗi kỹ thuật trong quá trình in ấn, thay một số tranh chưa thể hiện được bản sắc đặc thù của đồng bào Chăm. Bộ giáo dục và Đào tạo cũng cần định hướng việc sản xuất đồ dùng dạy học, biên soạn các loại sách công cụ, sách đọc thêm, dạy thêm tiếng Chăm.
Thông tư liên tịch số 50/2011/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC ngày 03/11/2011 của liên bộ GD-ĐT,bộ Nội vụ, bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Thủ tướng chính phủ qui định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên sẽ mở ra một hướng đi mới, tích cực hơn trong công tác dạy học tiếng dân tộc nói chung, tiếng Chăm nói riêng.
Lộ Minh Trại
(Phòng GDDT- Sở GD-ĐT Ninh Thuận)

Chữ Cham Akhar Thrah chuẩn hóa của Ban Biên Soạn Sách Chữ Cham

ThS. Quảng Đại Cẩn,
Viết ngắn trả lời các thắc mắc về:
Xin chân thành cám ơn một số điện thư hồi đáp về bài viết: “Chữ Cham Akhar Thrah của Ban Biên Soạn Sách Chữ Cham có trong Từ điển Aymonier- Cabaton, là di sản của tổ tiên”.
Tôi xin có giải đáp vắn tắc, trình bày các sự kiện, để bạn đọc có thể tự mình đánh giá đúng những quan điểm về chữ Cham Akhar Thrah (AT) chuẩn hóa và truyền thống giống và khác nhau như thế nào? Bản chất của AT Cham và tại sao có những tranh cải kéo đài vô bổ như vừa qua?

A/. Bản chất của AT Cham, sự khác nhau giữa AT chuẩn hóa và truyền thống:
1/. Về chữ cái inư akhar, có gì khác nhau giữa AT chuẩn hóa và truyền thống?
Hoàn toàn giống nhau về số lượng chử cái và cách sử dụng đọc và viết trong AT chuẩn hóa và truyền thống. Tất cả có 41 inư akhar, trong đó gồm có 35 inư akhar biểu thị phụ âm và 6 inư akhar biểu thị nguyên âm, là hạt nhân để phát triển một ngữ tố. Bảng chử cái Cham có trong các từ điển Cham và sách giáo khoa tiếng Cham của BBSSCC đã xuất bản. (xem trong phụ lục 1)
2/. Về dấu âm, chân chữ takai akhar, có gì khác nhau giữa AT chuẩn hóa và truyền thống?
Hoàn toàn giống nhau về số lượng và cách sử dụng đọc viết trong AT chuẩn hóa và truyền thống. Tất cả gồm có 15 takai akhar: số lượng takai akhar đứng trước inư akhar là 3; dứng sau inư akhar là 2; đứng dưới inư akhar là 4; và đứng trên inư akhar là 6. (Xem trong phụ lục 1)
Hai yếu tố cơ bản này giống nhau hoàn toàn thì cơ bản chúng ta có thể nói là AT chuẩn hóa và truyền thống là một. Nếu nói AT chuẩn hóa là lai căng, chế biến hay cải biên thì phải chứng minh cho được yếu tố nào là MỚI VAY MƯỢN TỪ BÊN NGOÀI. Ví dụ chử quốc ngữ, họ đã chế tạo ra thanh điệu: sắc huyền hỏi ngã, và nặng để làm cho mẫu tự Latinh có thể diển tả chính xác âm Việt. Không ai bảo là chữ quốc ngữ lai căng cả. Chữ Cham Jawi cũng vậy, khi dùng chữ Arap để diển đạt tiếng Cham, người Cham cũng thêm vài (4) dấu âm để thể hiện được chính xác các âm tiếng Cham và mọi người coi đó là một điều tự nhiên.
3/. Về vần- sap pauh, có gì khác nhau giữa AT chuẩn hóa và truyền thống?
Đây là mấu chốt của vấn đề. Chữ Cham AT truyền thống phát triển từ thời Po Romê, lưu truyền và sử dụng đến năm 1906 có cách viết rất TỰ DO THOẢI MÁI vì nhiều lí do khách quan và chủ quan. Điều này thể hiện rõ khi xem xét các văn bản viết tay ở các vùng miền khác nhau, Panrang, Parik, Pajai, và Cham Jahet ở Campuchia. Nhất là có thể kiểm chứng ngay trong từ điển Aymonier-Cabaton, 1906. Một chữ được viết theo nhiều kiểu, và một cách viết có thể đọc theo nhiều âm và có nghĩa khác nhau. Sự khác biệt đó giảm dần trong từ điển Moussay 1971, và các từ điển Cham sau này. Từ năm 1978 đến nay, chữ Cham AT của BBSSCC, đang dạy trong các trường, được chuẩn hóa và chọn lọc từ trong số những cách viết mà tổ tiên ta đã sử dụng THEO LUẬT CHÍNH TẢ NHẤT ĐỊNH, tất cà đều có trong từ điển Aymonier-Cabaton, 1906 và Moussay, 1971. (Xem Chữ Cham Akhar Thrah của Ban Biên Soạn Sách Chữ Cham có trong từ điển Aymonier-Cabaton, là di sản của tổ tiên trong sapchamblogspot.com, tincham.in và nguoicham.com…)
Một khi đã sử dụng tất cả các inư akhar và takai akhar đó để thể hiện tiếng Cham thì không thể gọi là lai căng hay chế biến được, dù người viết có chọn kiểu nào đi nữa. Do đó có thể khẳng định là CHỮ CHAM AKHAR THRAH CHUẨN HÓA ĐANG DẠY VÀ HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG CHAM VÀ CHỮ CHAM TRUYỀN THỐNG LÀ MỘT.

B/. Những ngộ nhận kéo dài không cần thiết:
4/. Có người cho rằng học xong chữ BBSSCC học sinh không đọc đươc chữ truyền thống của ông bà để lại, có đúng vây không, tại sao?
Chữ Cham AT truyền thống và chữ Cham chuẩn hóa là một nên các em đã đọc thông viết thạo chữ Cham khi xong bậc tiểu học sẽ hoàn toàn đọc được, với một điều kiện chữ đó phải được in hay viết chân phương rõ ràng. Chữ Chăm trong các văn bản cổ thường viết tháo và đôi khi kết hợp với akhar tuơl, và akhar galimưng thì các em không đọc được và các nhà phản đối “AT chế biến” cũng không đọc được, hoặ rất khó khăn và mất thời gian khi đọc. (Xin xem phụ lục 2).
5/. Tại sao học xong tiểu học, biết đọc biết viết chữ Cham AT, nhưng sau vài năm các em lại quên?
Khi học xong thì các em đọc thông viết thạo tiếng Cham. Ở cấp Trung học không có chương trình tiếng Cham, thường xuyên tiếp xúc và sử dụng tiếng Việt khiến các em quên dần chữ Cham. Chính phủ Việt Nam và xã hội cần tạo điều kiện cho các em tiếp xúc với tiếng Cham, chữ Cham ít nhất một tiết học mỗi tuần ở bậc Trung học thì thành quả thông thạo chữ Cham mới duy trì được.
6/. Tại sao có nhiều nhà nghiên cứu người Cham có học vị cao phản đối chữ Cham đang học trong nhà trường?
Đó là quyền tự do thể hiện sự hiểu biết của bản thân từng nhà nghiên cứu, nghiên cứu cho riêng mình hay được đồng bào áp dụng. NẾU HỌ CHỨNG MINH ĐƯỢC BBSSCC ĐÃ CHẾ TẠO INƯ AKHAR HAY TAKAI AKHAR NÀO MỚI MÀ KHÔNG TÌM THẤY TRONG KHO TÀNG AKHAR THRAH CHAM THÌ HỌ HOÀN TOÀN ĐÚNG. Inư akhar và takai akhar mới đó là lai căng sẽ bị huỷ ngay lập tức. Sự ngộ nhận chỉ đến với những ai chỉ dùng AT để đọc văn bản cổ, chưa hoặc không bao giờ sử dụng để viết trong giao tiếp và sáng tác. Họ tiếp cận AT một các phiến diện, chỉ đọc không viết thì ngộ nhận là một điều tự nhiên.
Nếu ai đó đã học, đọc thông viết thạo chữ Cham AT, và dùng để viết thư trao đổi hay viết nhật ký khoảng vài ba trăm trang giấy thì sẽ thấy chuẩn hóa, chọn một luật chính tả là cần thiết để một thông điệp viết ra mang nghĩa rõ ràng chuẩn xác. Hoặc nếu họ đã đọc hết cuốn từ điển Aymonier-Cabaton thì họ sẽ nghĩ khác và thấy rõ ràng chuẩn hóa hay truyền thống cũng chỉ là một. Chữ Việt có dấu và không dấu cũng là chữ Việt. Ví dụ như phong trào học chữ Cham AT của sinh viện Cham Sài Gòn giai đọan 1975 đến 1980, là học để viết thư từ, nhật ký, và sáng tác cho tập san “Jalan tal Vijaya” họ thấy rõ giá trị của việc chuẩn hóa, và hiểu rõ dù chuẩn hay không chuẩn AT Cham cũng chỉ là một. Xin được phép nêu tên một vài nhân chứng như là lời cám ơn vì họ đã góp sức bảo tốn và vun bồi tình yêu vô bờ đối với tiếng Cham cho ít ỏi sinh viên và đồng hương Cham tại Sài Gòn. Gồm có anh Thuận Tài, Trương Ngạt, Lưu Đảo, Phú Trạm, Dung Chiêm, Saleh,… chị Hiểu, Sáng, Ngọc, Chè, Hải … hiện sống tại Mỹ có Châu Triển, Lưu Thanh Thúy… Cho dù BBSSCC có thật sự chế tạo “Pauh gak” và “darsa không chrauh aw” (2 trong số hơn 180 vần Cham) đi nữa thì cũng không đủ điều kiện để nói rằng AT của BBSSCC là lai căng hay chế biến. Hơn thế nữa họ đã kế thừa “Pauh gak” và “darsa không chrauh aw” từ từ điển Aymonier-Cabaton các đây trên 100 năm. Do đó AT chuẩn hóa và truyền thống chắc chắn là một.
7/. Có người cáo buộc anh là đang viết bài lai căng và đang phá hoại di sản ngôn ngữ Champa, anh nghỉ sao?
Tôi luôn luôn trân quý sự nhiệt huyết của anh ấy, nhưng cần nghe “lai căng” ở chổ nào, và lai căng ngôn ngữ nào, với inư hay takai akhar nào?, để thuyết phục đươc đông đảo bạn đọc quan tâm. Nếu không thì không đủ cơ sở để nói rằng AT Cham có hai loại. Mong được học ở bậc đàn anh khả kính ấy cách TRAO ĐỔI KHOA HỌC để bạn đọc thấy là các khoa bảng Cham đang trao đổi khoa học chứ không tạo sự hiểu nhầm là đang cải nhau, đang tạo bè, đảng. Đi ngược với tinh thần Cham: Kuuk, kuuk suang gơp, hơ, hơ saung gơp, trong mọi sinh hoạt cộng đồng, nghĩa là: “cúi, cúi cùng nau, ngẩng, ngẩng cùng nhau”. Bị cáo buộc một việc mà tôi không làm thì tôi không bận tâm, họ nói họ nghe, họ viết họ đọc.
Tôi luôn kính trọng những nhà nghiên cứu chân chính và có trách nhiệm. Công bố những nghiên cứu trong LÃNH VỰC CHUYÊN MÔN của mình đến bạn đọc, nhiều khoa bảng Cham đã làm rất tốt. Giúp công chúng và đồng bào hiểu kỹ những vấn đề quan tâm. Công chúng, nhà hoạt động xã hội, nhà hoạch định chính sách, sẽ tự mình thấy đúng sai và quyết định chọn phương án nào để bảo tồn và phát triển hiệu quả di sản của tổ tiên. Câu chuyện AT Cham đã có kết luận từ tháng 2 năm 2007. Không ai muốn phá hoại, và phá hoại được di sản tiếng Cham khi mà người đó đang khuyến khích và cố gắng GIẢNG DẠY, TRUYỀN BÁ, VÀ SỬ DỤNG TIẾNG CHAM, dù là bằng chữ AT, Latinh hay Jawi. BBSSCC truyền bá chữ Cham tiếng Cham là một ví dụ, cũng như các lớp học chữ Cham Jawi ở các Sang Mưgik tại Nam Việt Nam, Campuchia và Hoa Kỳ. Họ đang bảo tồn tiếng Cham, chúng ta mang ơn họ, và nên tiếp tay với họ.
Khi nghi ngờ tính đúng đắn của chân lý mình đưa ra, một ít nhà khoa học cố chê bai, lên án những người có quan điểm khác. Điều đó làm bạn đọc tránh xa và càng nghi ngờ hơn tính thực tiển khả thi của nghiên cứu của họ. Chính họ tự biến nghiên cứu của họ thành thứ “hàng mã”. Vì công chúng chính là NGƯỜI THẦY KHÁCH QUAN có thể đánh giá được đúng sai các nghiên cứu để tự áp dụng vào cuộc sống, hoặc chỉ để đọc cho vui.

Ha Uy Di, Bal Kate thun 2011
Phuơl dhar Kate Champa 2011
Phụ lục 1 Inư, takai Akhar Thrah Cham dùng trong sách BBSSCC.


Phụ lục 2 Trích đoạn bản chép tay Akhar Thrah trong Inulang Amonier-Cabaton 1906.


Saturday, 3 December 2011

Vai trò của trí thức, cao niên Cham trong việc bảo tồn tiếng Cham

I/. Bài học từ 6300 tiếng đã bị tiêu vong:
1/. Ngôn ngữ CHẾT (death), tức là thứ tiếng đó không GIAO TIẾP được, không còn người nói thông viết thạo, do người cuối cùng nói thứ tiếng đó chết hoặc người nói và viết được tiếng đó (active language) chuyển sang giao tiếp bằng ngôn ngữ khác, cho dù còn nhiều người nghe, đọc, và hiểu được, tiếng nói đó (passive language) vẫn xem như đã chết. Khi số người còn hiểu được tiếng đó chết đi thì ngôn ngữ đó TIÊU VONG (extinct).

2/. Ngôn ngữ chỉ tồn tại khi có quá trình GIAO TIẾP, hội đủ ba yếu tố sau:
a. Người nói thông viết thạo thứ ngôn ngữ đó (native speakers).
b. Mạng lưới người cùng ngôn ngữ, đồng tộc (minority language network), hay mạng lưới người cùng hoàn cảnh xã hội và văn hóa (minority socio-cultural network), ví dụ như giữa người Cham với nhau trong không khí lễ Kate, Ramưwan hay Rơja (ngày lễ ở vùng Cham Nam Bộ) hay Tin lành Công giáo Cham.
c. Họ cùng có nhu cầu giao tiếp với nhau (communicative needs).
Nghĩa là các cá nhân trong cộng đồng ngôn ngữ đó, gia đình, giòng họ, nhóm trí thức, nhóm bạn, muốn GIAO TIẾP nói và viết bằng tiếng mẹ đẻ của họ thì quá trình giao tiếp tiếng mẹ đẻ xẫy ra. Ví dụ như tiếng Cham, đây là hoàn cảnh duy nhất có thể giao tiếp được bằng tiếng mẹ đẻ, cơ hội hiếm hoi để truyền bá tiếng Cham. Đây là không gian giao tiếp (communicative space) duy nhất để nuôi dưỡng tiếng Cham, nếu ai đó dùng tiếng Việt thì khi nào và với ai họ có thể dùng tiếng Cham? Hay không bao giờ và như thế đồng nghĩa với- không giao tiếp bằng tiếng Cham- tức là tiếng Cham đang chết. Giống như sự đang chết của tiếng Jawa, Sunda, và Bali ở Indonesia bi thay bởi tiếng Mã, sự đã và đang chết của 6.300 tiếng mẹ đẻ trong tổng số khoảng 7000 tiếng nói của loài người. Không GIAO TIẾP bằng bằng tiếng mẹ đẻ nữa là nguyên nhân TRỰC TIẾP và CHỦ YẾU dẫn đến cái chết của tiếng mẹ đẻ.
Tuy nhiên nếu dân tộc nào quyết và biết giữ tiếng của mình thì không ai có thể giết chết tiếng đó được (Baker, 2006). Quá trình hồi sinh tiếng Hebrew, của dân tộc Do Thái là một ví dụ điển hình, dù đã chết, sau 1000 năm lưu lạc, nhưng khi họ tập trung lại để lập quốc thì họ học lại và sử dụng mọi lúc mọi nơi duy nhất tiếng Hebrew, khi có cơ hội giao tiếp với nhau, nay có trên năm triệu người nói thứ tiếng này (Zuckermann, 2006).

3/. Cơ chế dịch chuyển ngôn ngữ (language shift) trong một cộng đồng sự dịch chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác thường diễn ra theo năm giai đoạn (bước). Ví dụ đối với người Cham sống tại Mỹ thì sự dịch chuyễn ngôn ngữ khã dĩ được mô tả như sau (C- dùng tiếng Cham thông thạo, E- dùng tiếng Mỹ thông thạo, c- dùng tiếng Cham ít, khả năng hạn chế, và không tự tin, e- dùng tiếng Mỹ ít, khả năng hạn chế, và không tự tin): C- Ce- CE- cE- E
Nghĩa là ban đầu chỉ tình trạng ngôn ngữ của họ là thông thạo chỉ có tiếng Cham, sau đó có thêm một ít tiếng Mỹ, sau nữa là thông thạo cả tiếng Cham và Mỹ, rồi thông thạo tiếng Mỹ với tiếng Cham bị ít dùng, quên dần, và cuối cùng chỉ có tiếng Mỹ duy nhất. Cơ chế đó lặp đi lặp lại từ ngày làn sóng di cư sang Mỹ lần đầu tiên cho đến ngày hôm nay, có thể kéo dài trong vòng 3 thế hệ, hoặ 4 thế hệ. Ví dụ cháu, chắc của người di trú tới Hoa Kỳ gốc Nhật, Hoa, và Châu Âu nay hầu hết là người đơn ngữ tiếng Mỹ. Tuy nhiên đối với cộng đồng thiểu số dù nhỏ, bị bao quanh bởi môi trường ngôn ngữ ưu thế hơn, nếu họ tạo được không gian văn hóa và giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ lành mạnh và bền chặt thì tiếng mẹ đẻ của họ có môi trường để tồn tại và phát triển. Ví dụ như người Puerto Rican ở New York, người Mễ ở Texas và California, và người Thổ Nhĩ Kỳ ở Bắc Hy Lạp.

4/. Tâm lý sử dụng song ngữ của các trẻ em thiểu số là khi ngôn ngữ thứ hai (tiếng Việt của các em Cham ở Việt Nam, tiếng Mỹ của các em Việt ở Mỹ) đạt mức“ thành thạo như tiếng mẹ đẻ” (native-like proficiency) thì họ thường giao tiếp bằng tiếng thứ hai hơn và tránh, giảm, rồi thôi dùng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp với người đồng tộc, trong cộng đồng, và với cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp khiến lượng người nói và viết tiếng mẹ đẻ sắc tộc thiểu số giảm mạnh (vì lớp trẻ là nguồn bổ sung duy nhất lượng người nói tiếng mẹ đẻ). Ngôn ngữ thiểu số, không được dùng trong giao tiếp thì sẽ chết và bị tiêu vong.

II/. Thực trạng của người thiểu số Cham:
1/. Một bước nữa tiếng Cham thành tử ngữ:
Nếu nhìn vào lộ trình tiêu vong 5 giai đoạn (cơ chế dịch chuyển ngôn ngữ) của một ngôn ngữ thí chúng ta, tiếng Cham, đang ở giai đoạn thứ tư hoặc bốn rưỡi: tức là một bước nữa thì tiếng Cham thành tử ngữ và chúng ta chỉ còn có một thứ ngôn ngữ duy nhất để giao tiếp đó là tiếng Việt tại Việt Nam và tiếng Anh tại Mỹ. Vì hiện nay không gian giao tiếp trong nội bộ cộng đồng Cham, nói và viết bằng tiếng Cham ít hơn, thận chí rất ít, hoặc pha trộn, hoặc không có tiếng Cham (như trong điện thư trao đổi giữa các trí thức đàn anh, hang đầu của Cham hoàn toàn bằng tiếng Việt). Vài ý kiến cho rằng tiếng Cham hiện nay đã ít dùng mà lại còn pha trộn nhiếu tiếng Việt, ví dụ: theo Inrasara và Phutra Noroya trong Inrasara.com có 50-60% tiếng Việt, Văn Món có 60% tiếng Việt, trong “Sự lai căng và suy thoái, 2010”. Thực ra tỷ lệ pha trộn tiếng Việt trong lới nói Cham đó có thể thấp hơn vì nhiều từ mới chúng ta không có phải vay mượn như: Tivi, Vali, computer… tiếng Việt, Tagalog, Mã… vẫn vay mượn khi cả cộng đồng họ thấy thuận tiện trong giao tiếp. Một số từ mới phát sinh và vài từ cũ chết đi là điều tự nhiện đối với một sinh ngữ, và sẽ được thể hiện trong các từ điển. Ví dụ như có sự khác nhau trong mục từ Cham trong Từ Điển Cham Phap (1906), Cham Việt Pháp (1971), Cham Việt (1995), Việt Cham (2004). Sự sử dụng tiếng Cham kiểu gì đi nữa cũng tốt hơn là dùng thuần tiếng Việt, nên khuyến khích, đó là thêm hơi thở cho tiếng Cham đang thoi thóp.

2/. Phạm vi sử dụng thu hẹp:
Hằng ngày chúng ta đã phải dùng tiếng Việt, tiếng Mỹ với người ngoại tộc phải tiếp xúc (qua sách báo, radio, tivi, internet, trong công việc, trường học…) lại tiếp tục dùng nhiều tiếng thứ hai đó với người đồng tộc- thì sự tự tin, khả năng, lòng yêu mến thứ tiếng đó sẽ tăng vượt lên đối với tiếng mẹ đẻ của mình. Tiếng mẹ đẽ càng trở nên mù mờ và xa vời hơn trong tiềm thức và ký ức của họ, và nhất là không có không gian để tồn tại. TIẾNG CHAM THÂN THƯƠNG CỦA CHÚNG TA ĐANG CHẾT TRONG MỘT TƯƠNG LAI RẤT GẦN.
Hoàn cảnh tiếng Cham thiếu nghiêm trọng các biện pháp hỗ trợ: như chính sách nâng đỡ của chính phủ, sách báo tiếng Cham, đài phát thanh, truyền hình (đã có chương trình ở Việt Nam tuy hạn chế, rất đáng trân trọng), internet tiếng Cham (vài chương trình, đáng khích lệ), trường lớp chính quy bằng tiếng Cham (có ở Việt Nam, ở Mỹ và vài nơi, cần nhân rộng). Phương tiện để người thông thạo tiếng Cham (trí thức, và cao niên) truyền bá ngôn ngữ cho thế hệ tiếp theo duy nhất là bằng tấm gương giao tiếp thực tế của mình trong gia đình và cộng đồng. Con cái trong nhà, người trẻ trong cộng đồng nhìn, học và thực hành từ giao tiếp nói viết của cha mẹ, bậc cao niên và trí thức Cham, để rồi truyền lại cho thế hệ tiếp theo. Nay trí thức Cham, bậc cao niên cũng có tâm lý ngại giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, giao tiếp nói viết bằng tiếng không là tiếng Cham thí ai sẽ làm việc này??? Cho dù có tăng cường biện pháp hỗ trợ, nhưng không có giao tiếp giữa người bản ngữ, thì tiếng đó cũng chết, ví dụ: tiếng Chorockee, và Navajo của người Mỹ bản địa.

3/. Giao tiếp là bảo tồn:
Đối với Cham hiện nay GIAO TIẾP LÀ BẢO TỒN, giao tiếp bằng tiếng Việt là chúng ta đang bảo tồn tiếng Việt. Tiếng Cham đang rất cần chúng ta nói viết và thực hành giao tiếp, nếu không nói viết bây giờ thì con cháu chúng ta không có cơ hội để nhìn thấy tiếng Cham phong phú, đẹp đẽ như thế nào, Con cháu chúng ta không có dịp để học và thực hành tiếng Cham, dân tộc chúng ta sẽ không còn cơ hội để nói viết tiếng Cham nữa.

III/. Giải pháp nào cho tiếng Cham tồn tại:
1/. Niềm hy vọng:
Bài học Do Thái trong việc hồi sinh tiếng Hebrew, bài học người Puerto Rican ở New York, người Mễ ở Texas và California, và người Thổ Nhĩ Kỳ ở Bắc Hy Lạp duy trì được tiếng mẹ đẻ của họ cho ta hy vọng. Tuy nhiên làm gì và làm như thế nào thì mọi người Cham đều đã trăn trở băng khuăng, nhất là đối với bậc trí thức và cao niên nên tự hỏi và có giải pháp cho riêng mình:
Nên chăng chúng ta vay mượn từ mới phát sinh trong xã hội hiện đại làm giàu cho tiếng Cham? Nên chăng tranh thủ học hỏi, giao tiếp bằng tiếng Cham, bằng mọi phương án, miễn hiểu được nhau, và không chê bai nhau đúng sai? Để rồi ôn hoà tìm ra cách giao tiếp thống nhất và thuận lợi? Tạo một không gian giao tiếp thông thoáng cho mọi người tự nguyện tự, giác theo sở thích của mình để giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. Đó cũng là khuyến khích cho mọi người sử dụng tiếng Cham của cá nhân mình, của vùng miền mình, và chia sẽ với người đồng tộc trên khắp thế giới. Với internet người Cham ở Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái lan, Hải Nam, Philipin, Mỹ, Úc, Malay,… có cơ hội giao tiếp với nhau, múa, hát cho nhau nghe. Rồi chúng ta sẽ hiểu nhau hơn, qua đó cầu nối tiếng mẹ đẻ sẽ càng vững chắc hơn và người Cham khắp nơi lại có nhau. Tiếng Chăm vừa là MỤC TIÊU vừa là ĐỘNG LỰC để người Cham chúng ta tồn tại.


2/. Vai trò tiên phong của trí thức và cao niên:
Một lần nữa, nếu tiếng Cham mất, người Champa mất hết, còn gì nữa đâu để mà giận hờn trách cứ phê phán nhau. Vai trò từng cá nhân người Cham QUYẾT ĐỊNH cho sự sống còn của tiếng Cham, “ta nói, tiếng Cham còn, ta không nói tiếng Cham mất”. “Không ai hát thay cho chúng ta”, từng cá nhân một, đều có trách nhiệm ngang nhau và hoàn toàn có thể đóng góp phần mình cho sự trường tồn của tiếng Cham bằng cách giao tiếp và sử dụng nhiều tiếng Cham, nói, viết, hát khi có thể, không những với người Cham mà với cả người ngoại tộc nếu họ muốn là người Cham đã yêu và hôn phối với người Cham.
Các cá nhân, lớn tuổi, ưu tú và trí thức của cộng đồng đó, là người thành thạo tiếng Cham hơn ai hết, càng phải đi TIÊN PHONG để cho thế hệ đàn em, con cháu học hỏi, noi theo và có cơ may vận dụng tiếng đó tốt hơn hoặc như thế hệ đi trước. Thái độ, hành động của mỗi người chúng ta hôm nay sẽ là vận mệnh của tiếng Cham ngày mai.

Bilan Maag 2010, Ths Quang Can

Sách Tham khảo:
Aymonier E. & Cabaton A, 1906. Dictionaire Cam – Francais, L’ecole Francaise D’exttreme-Orient, Volume VII.
Bùi Khánh Thế, 1995. Từ Điển Chăm - Việt, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội.
Colin Baker. Foundation of Bilingual education and bilingualism, (2006)
Colin Baker, and Sylvia Prys Jones. Encyclopedia of Bilingualism and bilingual education, (1998)
Moussay G., 1971. Từ Điển Chăm - Việt – Pháp, Phanrang.
Inrasara, Phan X Thanh, Từ Điển Việt – Cham, (2004) Nhà Xuất bản Giáo Dục.
Inrasara.com, Phutra Noroya, tiếng Cham đi về đâu; Trần Can, Văn 15- Chuyện chữ và tiếng. (2008)
Spolsky, B. & Shohamy, E. (1999). The languages of Israel: Policy, ideology and practice. Clevedon, England: Mulitlingual Matters Ltd.
Trương Văn Món, Sự lai căng và suy thoái trong gia đình và xã hội Chăm ngày nay, (2010). trong http://gilaipraung.com/category/phongtrao/xa-lu%E1%BA%ADn/page/2/, monsakaya.com
Zuckermann, G. (2006). Hebrew as myth: The genetics of the Israeli language. A paper Presented at the University of Arizona, February 3, 2006.


Tuesday, 29 November 2011

WHY IT IS IMPORTANT TO MAINTAIN THE MINORITY LANGUAGES?

MEd Can Quang
PhD Comprehensive Examination
1. The importance of language
Languages have been existing, and evolving together with the development and changes in human society (Baker & Jones, 1998). Languages are means of improving their lives in terms of political, social, cultural, and economic aspects. Language is obviously an indispensable tool of human beings. Not only is it a means of communicating thoughts and feelings, accumulating experience, and knowledge but it frames friendships, cultural ties, and economic relationships of communities, nations, or even human beings as well (Baker, 2008; Bokhorst-Heng, 1999; Fishman, 1994).
For the linguist Joshua Fishman, language is not only a vehicle for the expression of thoughts, perceptions, sentiments, and values characteristic of a community; it also represents a fundamental expression of social identity. He confirmed at the first stabilizing indigenous languages symposium on November 16, 1994 at Northern Arizona University in Flagstaff, Arizona focusing on creating an agenda for reversing language shift:
“All the ones who loved them spoke the language to them when they were children… All the endearments, all the nurturing, that is kinship, is tied into a living organism of a community by people who know each other, and they know they belong together… We are tied to each other through the language. That precious sense of community is not a thing to lose just as is the sense of holiness.”
In short, language retention helps maintain feelings of cultural kinship. Actually, while using the language to gain good education, and knowledge to get good jobs for better lives, the speakers expose their social identities. As we knew, the language we speak is part of who we are. It gives us a powerful sense of belonging with those who speak like us, and an equally powerful sense of difference from those who don't. When someone attacks our language -- or even just our accent -- we feel that we are being attacked. And we respond accordingly. Discriminate against a language, meaning you discriminate against its speakers; disrespect my language, meaning you disrespect me (Garrett, 2005).
Language, of course, enables the speakers to access experience and knowledge, and in our world today knowledge is one of the key factors in competitiveness and success. Minds and knowledge are what create the growth and prosperity for individual, community, and even human beings. In an advanced industrial society, in an increasingly interdependent world, the knowledge of other languages becomes indispensable. The inventions of the technology and the Internet more and more advanced have visibly changed our lives. For the last few years, millions of people across the world, who share common interests, are able to communicate with each other and exchange ideas. Not only are they able to do this due to the various technological advances, but also because they share a common language – global language – English language. Whether the ambitious dream, to make an archive of all human knowledge and to make the archive available to everyone on the globe, comes true or not (Internet archive, 2004). Nowadays, there are huge knowledge, information and resources available in the Internet and ready for people to use.

2. Language change
2.1. Internal changes
In the process of developing human society, languages have always been evolving and changing to gain their distinctive status and powers. They change, first of all, for internal reason. The speakers, human beings are creative and innovative. They unconsciously change in their speech. New words and expression are invented. Words change the meanings or gain the new meanings and lose the old ones. The pronunciation of different sounds gradually changes. Example, in medieval English, the “k” was pronounced in words such as ‘knight, knave, knock, know, knell’. It is now silent; Middle English, the word ‘nice’ meant “foolish, stupid”, but since 19th century, ‘nice’ means “pleasant, agreeable” (Baker & Jones, 1998). In Cham language, there were final sounds ‘băk’, ‘bbăk’, ‘thăk praung’, ‘phăk’, ‘nhưk’, ‘dăk’ and ‘mưk mưtai’ which are not using anymore; ‘bblang machuw’ has new meaning of “prosperous, thriving” instead of old meaning of “stunted, dwarfed” (Quang, 2008). This kind of changes may occur over decades or over century.

2.2. Linguistic interactions
Another main reason for language change is lingustic contacts and interactions among different languages. Languages change when facing a new environment, new political condition or resident status, or new immigrants in a place where there is strong contact with other languages. Their mother languages are not sufficient or fail to satisfy the educational, political, employment demands and communicative needs of the society in which they are placed, these involved people need another language to function effectively and their first languages are commonly endangered of being replaced by the second language (Jessner, 2008)(e.g., Vietnamese, Chinese, Latinos, and non English native speakers in the United States are required to learn English and often end up losing their mother languages, by the third generation). Some linguists call them circumstantial bilinguals, who were, in reality, forced to learn a dominant language to survive. In order to participate economically and politically in the society, they must acquire some degree of proficiency in the dominant language, e.g., English in the US, and Vietnamese in Vietnam. Thus circumstantial bilinguals are in a position of adding a societal language as a second language which will unavoidably replace their first language, e.g., Vietnamese, Chinese and Latinos in the United States; and Cham, Ede, Bhanar, and other ethnic minorities in Vietnam (Quang, 2005).
As in the case of the Cham, the Cham language has gradually been replaced by the Viet language, which is overwhelming in their daily lives (Trai, 2008). The young learner will enter a functional stage of learning after about two years of being in mainstream education. This means that he/she will attain basically fluency level needed to function in second language in all aspects of life. At this stage, he/she will begin to avoid using his/her native language. The more he/she uses dominant language, and gaining higher competence level and usage confidence, the less chance he/she uses his/her first language. The language borrowing, and language switching will happen more and more often and end up with language shift. As a result, the risk of loss mother tongue is inevitable and the numbers of dominant language speakers grow bigger and bigger (Heller, 2008) . Typically, the third generation immigrants in the US become monolingual English speakers as ‘three generation shift’ model (Baker, 2006). Luckily, Cham community, since 1832, have still kept their mother language alive and bilingual status.

2.3. Linguistic extinction
Have a look at the whole worlds’ languages to know distinction of their status and power and how a language dies or goes extinct. While some few languages are on the rise of their dominance, status and power in relationships with others (Baker, 2006), many other languages, 90% of worlds’ languages – about 6200, go extinct. As definition of some linguists, it means that the ethnic group who used to speak these languages now no longer uses their mother tongues, as their principal languages. Many kinds of pressures come together to put on smaller languages, such as economic pressures, affect of globalization, government policies that may favor certain official languages and actively or at least implicitly oppress smaller languages. Moreover, when the number of speakers may drop under a few hundreds or thousands, and living separately, the pressure to shift from their native mother tongue to a more dominant language is greater enormous. Even younger generation in the community perceives the social and economic advantages of speaking the more dominant language and voluntarily starts to become bilingual (Reagain, 2008). By that moment, the next generation has a weaker grasp of its mother tongue. Generally, about third generation, minority language speakers can no longer speak to or understand their grandparents and great-grandparents. So the shift from one language to a larger, dominant language can happen quite rapidly (Fishman, 1994).
For this main reason and some other reasons, languages nowadays are dying at an extremely rapid rate. About half of world’s languages have fewer than 10,000 speakers (Ethnologue, 2009). Some think about 90% of world’s languages are listed as “endangered” or “threatened” could be death within 21st century. The destructive power seems stronger than a tsunami. Urgently is required language planning measure to maintain linguistic diversity (Grenoble & Whaley, 1998), as it is ecology of languages (Muhlhausler, 2002; Baker, 2006).

3. The picture of worlds’ languages
In the age of globalization nobody can deny that the knowledge of the English language is one of so indispensable tools to succeed individually, regionally, and globally. It is one of the international languages, a tool of communication in hi-tech devices among countries, cultural groups, various companies and organizations, communities and friends. Among more than 6,909 of the words’ languages grouped in 132 language families, with one to 1268 branches (Lewis, 2009), there has been few languages gain that priority status in terms of dominance , power, and domain. Over the centuries, only few languages of dominant societies have served as auxiliary languages, sometimes gaining the international level, and have been used in recent times in many parts of the world. Currently, we can see from the underlying data in 2007 (Harmon and Loh, 2010), chart 1, which showed the globally dominant languages. About only 25 languages are spoken by 50 percent of the world’s population of about 3.4 billion as mother or first language. Therefore half the world population speaks one of the remaining 5,975 languages (Lewis, 2009). The languages on top are Mandarin, English, Spanish, Hindi, Arabic, Russian, Portuguese, French, and so on.
Together with around 200 official languages of the nations have been taught in schools. It also means that most of the rest of the words’ languages have been used only in community, at homes. The speakers of these less dominant languages need to acquire national language and international language if they want to be successful in their lives (Cummins et al, 1994). For example, in my case of Cham ethnic minority, I knew Cham as my first language. I had to go to schools for my education and job with Vietnamese. Hoping to get a better education and career, I had to learn English and got a scholarship to study in the United States of America. International language (English) helped me have a better future than knowing only my community language (Cham) or with my national language (Vietnamese). As my experience and other minority students from other countries who have studied in the United States of America, the opportunity and challenge have grow bigger and bigger when you know more dominant and powerful languages.

3.1. The English spreads
By the year 2000 it is estimated that over one billion people will be learning English. Huge waves of individuals rushing to pay high tuition for English courses in developing countries because English is language of success, the main language of books, newspaper, airports and air-traffic control, international business and academic conferences, science technology, diplomacy, sport, international competitions, pop music and advertising (Garrett, 2005b, Ho, & Alsagoff, 1998)). English is also used for more purposes than ever before. Everywhere it is at the leading edge of technological and scientific development, new thinking in economics and management, new literatures and entertainment genres. These have given rise to new vocabularies, grammatical forms and ways of speaking and writing. Nowhere is the effect of this expansion of English into new domains seen more clearly than in communication on Internet and the development of ‘net English’ (Graddol, 1997).

3.2. Languages in the Internet
Moreover, we are entering a new world are of the Internet and related information technology, which may upset the traditional patterns of communication. We have entered a period in which language and communication will play a more central role than ever before in economic, political and cultural life. The periods that the relationship and contact among individual are broaden up unlimited spaces and forms through information technology. We can see some unprecedented examples right at the moment in history that a global language has just emerged. Such as two incredible events; The first is the exploitation of the Internet and mobile technology in the US presidential campaign, which were thoroughly operated for the first time to help candidate Barack Obama race through the primaries and into the White House in 2008 (Discovery news, 2010); The second is the Tunisian Revolution or Jasmine revolution, which is a movement unified hundred thousands of individuals in movements for change in government, potentially spread through several countries including Egypt, Algeria, Bahrain, Yemen, Gabon, Iran, Morocco and Kazakhstan, even to China (Sun Maker, 2011). The demonstrations of Tunisia were triggered by decades of unemployment, human rights violations, lack of democracy, rise in food price and general discontent in a dictator nation. Incredible Jasmine revolution, the sudden and explosive waves of street protests ousted and overthrew the authoritarian president, Zine el-Abidine Ben Ali, who had ruled the nation with an iron hand for 23 years. Did those above events happen and have such power and spread without Internet and global language - English language? Because language and Internet have developed inseparably much quicker than ever, the study must be defective if we do not consider the language development in its strong environment, the Internet. Thought this paper only focuses on language, we should have a look at the data of language use in the Internet as shown following, to know how it gain that power. Now English is the largest language used in Internet about 10% of world population, and the number growing bigger and bigger.

4. The importance of minority language maintenance
Language maintenance is the protection and promotion of the first or native language in an individual or within a speech community, particularly among language minorities. Yet languages have no existence without people, the process of language maintenance involves different levels, individuals, community, nation, and linguists (through bilingual education, and language planning, for example), (Baker 2006; Pakir, 1994). Minority languages can be the languages of indigenous groups or of immigrants, which constantly cope with pressures of assimilation and replacement of the dominant language.
There are five basic arguments the researchers usually made why language maintenance is important. However, there is endless controversy on the topic (McCarty, et al, 2006). My view is, whether the language maintenance important or not, based partially on the owners/speakers of the minority language. My reasons are categorized in six basic points as following,

4. 1. Essentiality of Language diversity:
As some researchers said, “Because, with the loss of a language comes the loss of inherited knowledge, an entire thought-world. I've often heard it compared to losing a natural resource or an animal species” (Garrette, 2005b). Acording to me the world knowledge and “entire thought-world” can be translated into global language, and actually most of them in English. With single minority language we cannot access to human knowledge, but with English we can. However, damaging one of the elements in the ecosystem will result in unforeseen consequences for the whole of the system (Baker, 2006). If indigenous/ minority languages are seen as containing within them a wealth of ecological information as parts in ecolingustic system, their revivals are necessary deeds for linguistic diversity (Skutnabb-Kangas, &Phillipson, 2008); Pahl, 2008).
Development needs global language, sustainable development needs language diversity. I agrree that without a language, there is no human communication, no knowledge, and language only exists and develops solely in human society as he said, “A language, defined in this way from among the totality of fact of language, has a paricular place in the realm of human affairs, whereas language does not” (Saussure, 1983 p. 15). Languages have different status, power and dominance. Final goals of humanity are development communities, human societies in a sustainable way. In order to develop, with their language choice, people use and have the right to use whichever language powerful enough that enable them to access any resoiurces of infromation, and knowledge, to contact any partner they need, to broaden their job opportunities. What is that language if not the global language – English language. In order to sustain their development, people need to keep on language diversity. The indigenous/minority languages and cultures need to exist and develop in peace and harmony with other dominant languages, and global language. That is the resposibility of not only the indigenous/ minority speakers themselves but the human beings as well (UNESCO, 2005).
The only reason for mankind to keep language diverisy is because language is the present of the unique culture, the civilization and the knowledge of a community, a nation. There is some domains of minority language use related to traditional values, cultures, and religions which unable to replace by any other languages. For example, Cham community in Vietnam, since 1832 they lost their king dom of Champa and national authority, and became Vietnamese citizens. After about 180 years, under the pressures economic, social, political , their native language still alive, though many of them were assimilated to Vietnamese (Cat, 2010). They are proud of their unique language which is in active use in secured domains of their family, own culture, and traditional religions. Another rare example of diglossia, or stable bilingualism among Native Americans, it is Mississippi Choctaw of about 5,500 tribal members (1995) (Crawford, 1996). At least 90% among children entering schools, fluency in English. They use two languages for distinct purposes. “Tribal government, tribal business enterprises, and the trbally controlled system operate mainly if not exclusively in English” Crawford, 1996, p.55). Choctaw is used extensively in social, ceremonial, and family life. He also mentioned that this was the only reservation he visited where he encountered group of teenagers hanging out with each other speaking their native language, without teachers or other adults cajoling them to do so (Crawford, 1996.

4. 2. Language express identity
The child's first language is critical to his or her identity. Maintaining this language helps the child value his or her culture and sacred heritage from their ancestors, which contributes to a positive self-concept. It is the language that makes human beings distinction from animal and among themselves ( Bokhorst-Heng, 1999; Baker, 2008).
Some conceive the language is the means of conversation and store the ideas, feelings, and knowledge, they tend to use and want to use the best one to fix their need of communication and store the ideas, feelings, and knowledge. By this willing, the tendency of one language for the whole world may become true soon. It is the most dominant, powerful, and the highest status language (Stewert, 1968; Ruiz, 1988).
Some think that language is their identity, their culture, and their traditional values, which are handed down from their parents, and ancestors. They have to keep this sacred heritage unblemished and handed down to their children, children’s children. If they lose their language, they will lose themselves in terms of honor, hope, self esteem, and self pride (Fishman, 1994; Garrett, 2005a). They (some) commit many bad things because they think they have nothing to lose, such as, criminals, drug abuses, prostitutes, and even terrorists... This cause many bad effect to the sustainable development of communities and nations (Garrett, 2005a). Discriminate against a language means discriminate against its speakers. Because their language died, and they blamed on the language killers, they felt guilty, took revenge of the accused of murdering their language their identity, and became inhuman. As we knew, Tamil Tigers - speakers of the Tamil language - have been rebelling for decades against a Sinhalese-speaking majority. And in Spain, the Basque separatist group ETA has used acts of terrorism in pursuing its goal of an independent Basque homeland where Basque would be the national language. Many other conflicts and wars indirectly related to the linguistic issues (Garrett, 2005a).
In reality, both these desires usually exist corporately in one individual, one community and one nation. This is nurtures and motivates bilingual/ multilingual tendency in minority communities. Therefore maintaining the minority languages together with promotion national and global languages are important thing human beings accomplishment for their moving forwards.

4. 3. Social relationship:
When the native language is not maintained, important links to family and other community members may be lost. By encouraging native language use, parents can prepare the child to interact with the native language community, both in the United States and overseas. The question is in case all of them are bilinguals and they can use second language to communicate in every domain, they can link with all community members with the second language, do they need to speak their mother tongue? For social connection reason they may say no, but for maintaining identity reason, if they are proud of their traditional values, they do not want to change, they must say yes. That is why Cham indigenous in Pangduranga area in Vietnam, Choctaw in Mississippi can have kept bilingual status, their mother tongue with national language, until now (Crawford, 1996).
However, few outstanding educated individuals of some minorities lost their return when they got higher education. While they achieve academic distinction, they got fluency in national and global language, and they become the progressive models of their community. If they maintain their native language, they can help to develop their community and bilingualism status on their community, otherwise they break the connection between their community and themselves standing for the development. In this case some of them married dominant native speakers and stopped using their mother tongue. They lose their links to their relatives and community members. The community become smaller and smaller, and backwardness because it loses the educated portion of its population. Ethnic minority/ indigenous are usually in poverty and backwardness. When individuals got advance status of development they left their native community. Few of them feel ashamed of their community, culture and language they want to change their identities (Fishman, 1994). Meanwhile they release a bad message that the community not for nobleperson and their negative attitude to their origin (language and identity) quick spreading like epidemic within the community. This interior pressure ruins the confident of community use their native language and pushes the minority language to death faster.
The human history is the series of civilization from “savagery” to “barbarous” to “civilization”, the series of contacts, changes and replacements form “lower” status of cultures and languages to “higher” status of cultures and languages (Crawford, 1996). This progress is usually natural and desirable. In some periods of human history, the development took priority over sustainability. As a result, the “higher” culture and language community brutally tried to replace and erase the “lower” culture and language. Though democratic orientation took over the wrong direction, the consequences were hardly curable. Many human heritage languages had gone, and big number of mankind is living in poverty and hunger. As for me, maintenance bilingual status is essential. Great potential of individuals, communities, and nations will be unlocked under a relevant language policy and planning at local, regional, and global levels. It is also the purpose and motivation of social development. Words languages will be competitive in mutual existence (Skutnabb-Kangas, & Phillipson, 2008.

4. 4. Intellectual, repository of history of language:
Immigrant students need uninterrupted intellectual development. When students who are not yet fluent in English switch to using only English, they are functioning at an intellectual level below their age. Interrupting intellectual development in this manner is likely to result in academic failure. However, when parents and children speak the language they know best with one another, they are both working at their actual level of intellectual maturity (Cummins et al, 1994).
If we look at the individual’s intellectual maturity as an endless process, the switching in English education earlier than needed just delays the process for a moment. With the English, they own a most powerful tool for not only accessing in huge knowledge and information resources.
During the accomplishment of their intellectual, bilinguals know how to flexibly exploit their both languages. They use their languages spontaneously and sensibly in a variety of ways and for many different purposes. Even young children know surely how to use the two languages in different places, with different people, and for different purposes. Actually, bilinguals naturally know how to purposefully switch back and forth between the two languages in the course of a single activity or interaction (Collier, 1995.

4. 5. Educational advantages:
Research shows that there are important educational advantages in being bilingual particularly when bilingual learners also become biliterate, or literate in two languages. The more your bilingual learners can use both their languages in curriculum learning, the better. The two languages support each other and are interdependent, and bilingual speakers have some cognitive advantages over those who know only one language (Cummins, 1981).
Students who learn English and continue to develop their native language have higher academic achievement in later years than do students who learn English at the expense of their first language. This maybe right because those who still link with their mother tongue community, have strong motivation, and desire of learning, and doing something to help their community to develop and progress (Cummins et al, 1994).
Children's knowledge and skills transfer across languages from the mother tongue they have learned in the home to the school language. From the point of view of children's development of concepts and thinking skills, the two languages are interdependent. Transfer across languages can be two-way: when the mother tongue is promoted in school (e.g. in a bilingual education program), the concepts, language, and literacy skills that children are learning in the majority language can transfer to the home language. In short, both languages nurture each other when the educational environment permits children access to both languages (Collier, 1995; Cummins, 2000; Baker, 2006).
Practically, Bilingual children perform better in school when the school effectively provides teaching-learning the mother tongue and, where appropriate, develops literacy in that language. By contrast, when children are encouraged to decline their mother tongue and, consequently, its development disintegrates, their personal and conceptual foundation for learning is impaired (Baker, 2000; Cummins, 2000; Skutnabb-Kangas, 2000; The, 2003).
Research findings have validated that, while maintaining bilingualism, academic, literacy, concepts, and knowledge linguistic skills transfer rather easily across languages (Baker, 2006; Lanauze & Snow, 1989). Recently, ample research has confirmed that mother tongue promotion in the school helps develop both the mother tongue and children’s abilities in the majority school language even if languages use different alphabetic system (Goldenberg, 2008; Cummins, 2001). Actually, when bilinguals are learning and reach fluency in second or other languages, the knowledge and skills can easily transfer across languages.

4. 6. Economic benefits and national security:
Better employment and business opportunities in this country and overseas are available for individuals and units who are fluent in English and another language. There are advantages of being bilingual or multilingual. If someone wants to get a better lifestyle and be successful in the new place, they should communicate and speak the language. They have more opportunities to get a better job and to get a competitive salary. Some companies seek for a bilingual person it is depends of the customer’s demand (Heller, 2008). In doing business, knowing minority languages or maintaining bilingualism/ multilingualism, enable you to reach target customers in the best medium and understanding way to offer your products/services. In the world trade, the endlessly continued rise in trade, capital flows and personal migration, at higher rates than ever, will require increasing human resources devoted to the practice of foreign languages and the study of foreign cultures (Jorge, et al, 1983).
In national and global level, maintenance of bilingualism or minority languages is critical important as we look as how the US treated with language and national security issue. In January 2006, President Bush announced the National Security Language Initiative (NSLI), an inter-agency effort coordinated by the White House to dramatically increase the number of Americans learning, speaking, and teaching critical need foreign languages (minority languages in the United States and other countries). He appealed,
“Foreign language skills are essential to engaging foreign governments and peoples, especially in critical world regions, to promote understanding, convey respect for other cultures, and encourage reform. These skills are also fundamental to the economic competitiveness and security interests of the nation. The Secretaries of State, Education, and Defense and the Director of National Intelligence launched this comprehensive and coordinated national initiative with new programs and resources to expand U.S. critical foreign language education beginning in kindergarten and continuing through elementary, secondary, and postsecondary education and into the workforce” (U. S. Department of Education, 2006).
Why it is only promoting understanding, respect for some critical need foreign languages, in critical world region, at a critical time, while every single language and culture deserves to be understood and respected? Actually, for the sake of economic competitiveness and security of the U.S., nurturing bilingualism in immigrant communities is feasible, humane, and effective. It enables the U.S. to build the link to most of world’s nations needed for a mutual sustainable development, especially for the U.S. benefits.

5. Conclusion
5. 1. Only therectical importance?
To maintain minority languages is very important as those above reasons and the central role of languages. It is crucial important in this era of information technology and high tech which may be very helpful to maintain the minority languages, but actually make them disappear quicker. However, It does not make sence if what we know and what we try to research do not help to make any slowdown the death rate of minority languages. Yes, we, linguists, can reconstruct a few extinct languages; but finally, what we have then is not much more than words on paper, and in museum. We cannot bring back from the dead a society that spoke the language, or the heritage and culture behind it. Once a language is gone, it's gone forever.
if the minority native speakers deny to recognaize their own language as important as we, researchers, ousiders do. It is no meaning and no use to revitalize the language, because as my experience, and some linguists and all researchers agreed that language preservation efforts are to succeed only if they are responded by the community, led by minority/indigenous institutions, organizations, and activists themselves, with the effective help and support from outside expertise and governmental policy and long term funding (Crawford, 1996; Derhemi, 2002). The most decisive factor in the future of these endangered languages is the will and the attitude of the speech communities. Without the interest of the speech community in revitalization, any effort to promote institutional protection would be senseless and insignificant (Derhemi, 2002). It seems only the speakers of the minority languages can say whether the maintenance of their languages is important!!!

5. 2. Who have to do, what can be done?
No matter what UNESCO declared about the indigenous Language Right (UNESCO, 2007), how important the language maintenance is, What we talk, what we think, the massive language death at a record rate faster than ever, meaning “it doesn’t work” Why?
Only the speakers/ owners of the endangered language may decide “It works”. The main players in the narrative need to understand this importance, know the stage their language is in, share practical experience (both failures and successes), and know what need to do to maintain their language step by step. Reforming their positive language attitude, promotion language use, reserving domains for minority language use among native speakers, are necessary for revival the language together with relavant language policy and language planning in terms of status, acquisition and corpus (Baker, 2006.

5. 3. Theory must match with pratice
It is easy to say not easy to do whatever even only to show that their minority languages are important. We never see the minority language appear equitably with dominant language in schools, mass-media, public places, on the Internet. We never look for community leaders, and never train them how their language is important and need to be promoted, and revitalized. The United States of America is the model of the world in its democratic oreintation, and in managing the nation. Though many studies on bilingual education and its important have been conducted, not many projects have been implimented. While fundings and projects for teaching English as a second language have been promoting everywhere with different names, TEFL, TESOL, TESL, ESL, and so on. Rarely or no chance is it to get scholarship or fund available for students and teachers seeking for higher education in bilingual fields. Finaly, “No child left behind” (passed in Jun, 2001) put an end to the destiny of minority languages, and bilingual education in the U.S. Is it serious if we are talking about language diversity while “English only” has kept trongly being supported from current language policy, language planning and the world of noblemen.

5. 4. Take Challenge or it is too late
The huge challenge to the process of maintaining minority languages is that most of them, the main players in the narrative, are usually not aware of their losing language sistuation and lack of condition to start a reverse movement of language shift. Only bilingual education in schools is not enough to make “it works”. WHO can make them think about the important of their language and change their language attitute towards their language, while they are truggeling with their hunger? WHO can find out their social leaders, and activists and train them to be language revival leaders? It seems much work need to be done to cure these language than what human being have done. The initial steps of action need to be done rather than huge research and declarations. The way we have acted sofar to say that we, human beings, want to promote only global language, and we will pay for this unforeseen deviation as we are paid for our past mistakes.

References
Baker, C., & Jones, S. P. (1998). Encyclopedia of bilingualism and bilingual education. Philadelphia: Multilingual Matters Ltd.
Baker, C. (2000). A parents' and teachers' guide to bilingualism. 2nd Edition. Clevedon, England: Multilingual Matters.
Baker, C. (2006). Foundations of bilingual education and bilingualism. (4th Ed.). N. H. Hornberger (Ed.). Bilingual Education and Bilingualism. New York: Multilingual Matters Ltd.
Baker, C. (2008). Knowledge about bilingualism and multilingualism. In J. Cummins & N., H., Hornberger (Eds.), Encyclopedia of language and education, 6, 22, 314-327.
Bokhorst-Heng, W. (1999). Language is more than a language (CAS Research Paper Series No. 6). Singapore: National University of Singapore, Centre for Advanced Studies.
Cat, B. (2010) Lac Tri 80 years after the Phan Khoi article. Retrieved on {04/01/11} from http://www.baobinhthuan.com.vn/vn/default.aspx?cat_id=657&news_id=28950
Collier, V. “Acquiring a Second Language for School,” Directions in Language and Education (1995) 1(4).
Cummins, J. (1981). Bilingualism and Minority-Language Children (Toronto, Ontario: The Ontario Institute for Studies in Education).
Cummins, J. et.al (1994). Schooling and Language-Minority Students: A Theoretical Framework (Los Angeles, California: California State University, School of Education).
Cummins, J. (2000). Language, power, and pedagogy. Bilingual children in the crossfire. Clevedon, England: Multilingual Matters.
Crawford, J. (1996). Seven hypotheses on language loss causes and cures. Presented at the second Symposium on Stabilizing Indigenous Languages on may 1995 at Northern Arizona University.
Derhemi, E. (2002). Protecting endangered minority languages: Sociolinguistic perspectives – Thematic introduction. In P. D. Guchteneire, M. Koenig, E. Derhemi (Eds,), International Journal on Multicultural Societies (IJMS), 4, 2, 150 – 161.
Discovery News. (2010). 5 new tech initiatives from Obama. Retrieved in May 2011 from the website http://news.discovery.com/tech/five-new-tech-initiatives-from-obama-101230.html
Ethnologue. (2009). Ethnologue: Languages of the World, Sixteenth edition.
Fishman, J. (1994). “What Do You Lose When You Lose Your Language.” Stabilizing Indigenous Languages. http://www.nclea.gwu.edu/miscpubs/ stabilize/ iii-families/lose.htm (22 March 2004).
Garrett, P. B. (2005a). Is language important to fight about? The 5 minutes linguist: Talkin’ about talk. Retrieved on 06/15/11 from http://spinner.cofc.edu/linguist/archives/2005/12/is_language_imp.html?referrer=webcluster&
Garrett, P. B. (2005b). Why do languages die? The 5 minutes linguist: Talkin’ about talk. Retrieved on 06/17/11 from http://spinner.cofc.edu/linguist/archives/2005/11/why_do_language_1.html?referrer=webcluster&
Graddol, D. (1997). The future of English? A guide to forecasting the popularity of the English language in the 21st century. The British Council: The English-Company (UK) Ltd.
Grenoble, L. A., & Whaley, L. J. (1998). Endangered languages: language loss and community response.
Heller, M. (2008). Language choice and symbolic domination. In J. Cummins & N., H., Hornberger (Eds.), Encyclopedia of language and education, 3, 949-957.
Ho, C. L., & Alsagoff, L. (1998). English as the common language in multicultural Singapore. In J. A. Foley et al. (Eds.), English in new cultural contexts: Reflections from Singapore (pp. 201-217). Singapore: Oxford University Press.
Internet Archive. (2004). Brewster Kahle: Universal access to all human knowledge. Presented in Notcon 2004 conference.
International Telecommunication Union. (2010). Information Communication Technology data and statistics. Retrieved on 06/12/2011 from http://www.itu.int/ITU-D/ict/
Internet World Stats. (2010). Top Ten Languages Internet Stats. Updated for June 30 2010.
Jessner, U. (2008). Language awareness in multilinguals: Theoretical trends. In J. Cummins & N., H., Hornberger (Eds.), Encyclopedia of language and education, 6, 22, 2103-2115.
Jorge, A., et. Al. (1983). Discussion papers in economic and bankings: The economic impact of bilingualism. Florida International university, Miami, Florida.
Lewis, M. P. (2009). Ethnologue: Languages of the World, Sixteenth edition. Dallas, Tex.: SIL International. Retrieved from: http://www.ethnologue.com/
McCarty, T., Romero, M. E., & Zepeda, O. (2006). Reclaiming the gift: Indigenous Youth Center-Narratives on Native Language Loss and Revitalization. American Indian Quarterly, 30(1), 28-48.
Mühlhäusler, P. (2000). Ecology of languages. In R. B. Kaplan (Ed.). The oxford handbook of applied linguistics. Oxford: Oxford university press.
Nielsen Online, ITU, GfK. (2010). Internet usage information.
Pahl, K. (2008). The ecology of literacy and language: Discourses, identities and practices in homes, schools and communities. In J. Cummins & N., H., Hornberger (Eds.), Encyclopedia of language and education, 9, 36, 3183-3193.
Pakir, A. (1994). Making bilingualism work: Development in bilingual education in Asian. In R. Khoo, U. Kreher, & R. Wong (Eds.), Towards global multilingualism: European models and Asian realities. Clevedon: Multilingual matters.
Quang, D. C. (2005). Language policies and the reality of bilingual education for ethnic minorities in Vietnam. Presented at Conference on 30 years beyond the war: Vietnamese, Southeast Asian, and Asian/American Studies at University of California- Riverside.
Quang, D. C. (2008). Overview of the standardization of Akhar Thrah of Cham language by Cham compiling textbooks committee.
Reagain, P. O. (2008). Language attitudes and minority languages. In J. Cummins & N. H. Hornberger (Eds.), Encyclopedia of language and education, 6, 22, 328-341.
Saussure, F. D. (1983). Course in general linguistics. Republished 1986: Open Court
Skutnabb-Kangas, T. (2000). Linguistic genocide in education-or worldwide diversity and human rights? Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum Associates.
Skutnabb-Kangas, T., & Phillipson, R. (2008). A human rights perspective on language ecology. In J. Cummins & N. H. Hornberger (Eds.), Encyclopedia of language and education, 9, 32, 2-13.
Stewart, W. A. (1968). Sociolinguistic typology of multilingualism. In J. Fishman (Ed.), Readings in the Sociology of Language. The Hague: Mouton Publishers.
Sun Maker. (2011). International Communication service, Sun Maker March Issue: The color revolution classification. From http://www.sun-maker.com/2011/02/march-issue-colour-revolution.html
Surfing and guide. (2010). Usage and population statistics: Surfing and guide Internet world stats. Retrieved from http://www.internetworldstats.com/surfing.htm
The, B. K. (2003). Multilingual education in the community of minority peoples of Vietnam. Presented at Conference on Language development, language revitalization and multilingual education in minority community in Asian, 6- 8th November 2003, Bangkok, Thailand.
Trai L. M. (2008). The teaching and learning of Cham language art in Ninh Thuan province.
U.S. Census Bureau. (2010). World population information. Retrieved on 06/11/2011 from http://www.census.gov/
U.S. Department of Education. (2001). No child left behind. From http://www2.ed.gov/policy/elsec/leg/esea02/index.html
U.S. Department of Education. (2006). National language security initiative. Archived information. From http://www2.ed.gov/about/inits/ed/competitiveness/nsli/about.html
UNESCO. (2005). Education for sustainable development. From http://www.unesco.org/new/en/education/themes/leading-the-international-agenda/education-for-sustainable-development/
Wong-Fillmore, L. (1991). When Learning a Second Language Means Losing the First. Early Childhood Research Quarterly , 6, 323-346.