Friday, 24 August 2012

Thực hư câu chuyện Chữ Cham Akhar Thrah

ThS. Quảng Đại Cẩn
Viết ngắn trả lời các thắc mắc về: Akhar Thrah Cham,
Xin chân thành cám ơn một số điện thư hồi đáp về bài viết: “Chữ Cham Akhar Thrah của Ban Biên Soạn Sách Chữ Cham có trong Từ điển Aymonier- Cabaton, là di sản của tổ tiên”.
Tôi xin có giải đáp vắn tắc, trình bày các sự kiện, để bạn đọc có thể tự mình đánh giá đúng những quan điểm về chữ Cham Akhar Thrah (AT) chuẩn hóa và truyền thống giống và khác nhau như thế nào? Bản chất của AT Cham và tại sao có những tranh cải kéo đài vô bổ như vừa qua?

A/. Bản chất của AT Cham, sự khác nhau giữa AT chuẩn hóa và truyền thống:
1/. Về chữ cái inư akhar, có gì khác nhau giữa AT chuẩn hóa và truyền thống?
Hoàn toàn giống nhau về số lượng chử cái và cách sử dụng đọc và viết trong AT chuẩn hóa và truyền thống. Tất cả có 41 inư akhar, trong đó gồm có 35 inư akhar biểu thị phụ âm và 6 inư akhar biểu thị nguyên âm, là hạt nhân để phát triển một ngữ tố. Bảng chử cái Cham có trong các từ điển Cham và sách giáo khoa tiếng Cham của BBSSCC đã xuất bản. (xem trong phụ lục 1)
2/. Về dấu âm, chân chữ takai akhar, có gì khác nhau giữa AT chuẩn hóa và truyền thống?
Hoàn toàn giống nhau về số lượng và cách sử dụng đọc viết trong AT chuẩn hóa và truyền thống. Tất cả gồm có 15 takai akhar: số lượng takai akhar đứng trước inư akhar là 3; dứng sau inư akhar là 2; đứng dưới inư akhar là 4; và đứng trên inư akhar là 6. (Xem trong phụ lục 1)
Hai yếu tố cơ bản này giống nhau hoàn toàn thì cơ bản chúng ta có thể nói là AT chuẩn hóa và truyền thống là một. Nếu nói AT chuẩn hóa là lai căng, chế biến hay cải biên thì phải chứng minh cho được yếu tố nào là MỚI VAY MƯỢN TỪ BÊN NGOÀI. Ví dụ chử quốc ngữ, họ đã chế tạo ra thanh điệu: sắc huyền hỏi ngã, và nặng để làm cho mẫu tự Latinh có thể diển tả chính xác âm Việt. Không ai bảo là chữ quốc ngữ lai căng cả. Chữ Cham Jawi cũng vậy, khi dùng chữ Arap để diển đạt tiếng Cham, người Cham cũng thêm vài (4) dấu âm để thể hiện được chính xác các âm tiếng Cham và mọi người coi đó là một điều tự nhiên.
3/. Về vần- sap pauh, có gì khác nhau giữa AT chuẩn hóa và truyền thống?
Đây là mấu chốt của vấn đề. Chữ Cham AT truyền thống phát triển từ thời Po Romê, lưu truyền và sử dụng đến năm 1906 có cách viết rất TỰ DO THOẢI MÁI vì nhiều lí do khách quan và chủ quan. Điều này thể hiện rõ khi xem xét các văn bản viết tay ở các vùng miền khác nhau, Panrang, Parik, Pajai, và Cham Jahet ở Campuchia. Nhất là có thể kiểm chứng ngay trong từ điển Aymonier-Cabaton, 1906. Một chữ được viết theo nhiều kiểu, và một cách viết có thể đọc theo nhiều âm và có nghĩa khác nhau. Sự khác biệt đó giảm dần trong từ điển Moussay 1971, và các từ điển Cham sau này. Từ năm 1978 đến nay, chữ Cham AT của BBSSCC, đang dạy trong các trường, được chuẩn hóa và chọn lọc từ trong số những cách viết mà tổ tiên ta đã sử dụng THEO LUẬT CHÍNH TẢ NHẤT ĐỊNH, tất cà đều có trong từ điển Aymonier-Cabaton, 1906 và Moussay, 1971. (Xem Chữ Cham Akhar Thrah của Ban Biên Soạn Sách Chữ Cham có trong từ điển Aymonier-Cabaton, là di sản của tổ tiên trong sapchamblogspot.com, tincham.in và nguoicham.com…)
Một khi đã sử dụng tất cả các inư akhartakai akhar đó để thể hiện tiếng Cham thì không thể gọi là lai căng hay chế biến được, dù người viết có chọn kiểu nào đi nữa. Do đó có thể khẳng định là CHỮ CHAM AKHAR THRAH CHUẨN HÓA ĐANG DẠY VÀ HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG CHAM VÀ CHỮ CHAM TRUYỀN THỐNG LÀ MỘT.

B/. Những ngộ nhận kéo dài không cần thiết:
4/. Có người cho rằng học xong chữ BBSSCC học sinh không đọc đươc chữ truyền thống của ông bà để lại, có đúng vây không, tại sao?
Chữ Cham AT truyền thống và chữ Cham chuẩn hóa là một nên các em đã đọc thông viết thạo chữ Cham khi xong bậc tiểu học sẽ hoàn toàn đọc được, với một điều kiện chữ đó phải được in hay viết chân phương rõ ràng. Chữ Chăm trong các văn bản cổ thường viết tháo và đôi khi kết hợp với akhar tuơl, và akhar galimưng thì các em không đọc được và các nhà phản đối “AT chế biến” cũng không đọc được, hoặ rất khó khăn và mất thời gian khi đọc. (Xin xem phụ lục 2).
5/. Tại sao học xong tiểu học, biết đọc biết viết chữ Cham AT, nhưng sau vài năm các em lại quên?
Khi học xong thì các em đọc thông viết thạo tiếng Cham. Ở cấp Trung học không có chương trình tiếng Cham, thường xuyên tiếp xúc và sử dụng tiếng Việt khiến các em quên dần chữ Cham. Chính phủ Việt Nam và xã hội cần tạo điều kiện cho các em tiếp xúc với tiếng Cham, chữ Cham ít nhất một tiết học mỗi tuần ở bậc Trung học thì thành quả thông thạo chữ Cham mới duy trì được.
6/. Tại sao có nhiều nhà nghiên cứu người Cham có học vị cao phản đối chữ Cham đang học trong nhà trường?
Đó là quyền tự do thể hiện sự hiểu biết của bản thân từng nhà nghiên cứu, nghiên cứu cho riêng mình hay được đồng bào áp dụng. NẾU HỌ CHỨNG MINH ĐƯỢC BBSSCC ĐÃ CHẾ TẠO INƯ AKHAR HAY TAKAI AKHAR NÀO MỚI MÀ KHÔNG TÌM THẤY TRONG KHO TÀNG AKHAR THRAH CHAM THÌ HỌ HOÀN TOÀN ĐÚNG. Inư akhar và takai akhar mới đó là lai căng sẽ bị huỷ ngay lập tức. Sự ngộ nhận chỉ đến với những ai chỉ dùng AT để đọc văn bản cổ, chưa hoặc không bao giờ sử dụng để viết trong giao tiếp và sáng tác. Họ tiếp cận AT một các phiến diện, chỉ đọc không viết thì ngộ nhận là một điều tự nhiên.
Nếu ai đó đã học, đọc thông viết thạo chữ Cham AT, và dùng để viết thư trao đổi hay viết nhật ký khoảng vài ba trăm trang giấy thì sẽ thấy chuẩn hóa, chọn một luật chính tả là cần thiết để một thông điệp viết ra mang nghĩa rõ ràng chuẩn xác. Hoặc nếu họ đã đọc hết cuốn từ điển Aymonier-Cabaton thì họ sẽ nghĩ khác và thấy rõ ràng chuẩn hóa hay truyền thống cũng chỉ là một. Chữ Việt có dấu và không dấu cũng là chữ Việt. Ví dụ như phong trào học chữ Cham AT của sinh viện Cham Sài Gòn giai đọan 1975 đến 1980, là học để viết thư từ, nhật ký, và sáng tác cho tập san “Jalan tal Vijaya” họ thấy rõ giá trị của việc chuẩn hóa, và hiểu rõ dù chuẩn hay không chuẩn AT Cham cũng chỉ là một. Xin được phép nêu tên một vài nhân chứng như là lời cám ơn vì họ đã góp sức bảo tốn và vun bồi tình yêu vô bờ đối với tiếng Cham cho ít ỏi sinh viên và đồng hương Cham tại Sài Gòn. Gồm có anh Thuận Tài, Trương Ngạt, Lưu Đảo, Phú Trạm, Dung Chiêm, Saleh,… chị Hiểu, Sáng, Ngọc, Chè, Hải … hiện sống tại Mỹ có Châu Triển, Lưu Thanh Thúy… Cho dù BBSSCC có thật sự chế tạo “Pauh gak” và “darsa không chrauh aw” (2 trong số hơn 180 vần Cham được chuẩn bởi BBS) đi nữa thì cũng không đủ điều kiện để nói rằng AT của BBSSCC là lai căng hay chế biến. Hơn thế nữa họ đã kế thừa “Pauh gak” và “darsa không chrauh aw” từ từ điển Aymonier-Cabaton các đây trên 100 năm. Do đó AT chuẩn hóa và truyền thống chắc chắn là một.
7/. Có người cáo buộc anh là đang viết bài lai căng và đang phá hoại di sản ngôn ngữ Champa, anh nghỉ sao?
Tôi luôn luôn trân quý sự nhiệt huyết của anh ấy, nhưng cần nghe “lai căng” ở chổ nào, và lai căng ngôn ngữ nào, với inư hay takai akhar nào?, để thuyết phục đươc đông đảo bạn đọc quan tâm. Nếu không thì không đủ cơ sở để nói rằng AT Cham có hai loại. Mong được học ở bậc đàn anh khả kính ấy cách TRAO ĐỔI KHOA HỌC để bạn đọc thấy là các khoa bảng Cham đang trao đổi khoa học chứ không tạo sự hiểu nhầm là đang cải nhau, đang tạo bè, đảng. Đi ngược với tinh thần Cham: Kuuk, kuuk suang gơp, hơ, hơ saung gơp, trong mọi sinh hoạt cộng đồng, nghĩa là: “cúi, cúi cùng nau, ngẩng, ngẩng cùng nhau”. Bị cáo buộc một việc mà tôi không làm thì tôi không bận tâm, họ nói họ nghe, họ viết họ đọc.
Tôi luôn kính trọng những nhà nghiên cứu chân chính và có trách nhiệm. Công bố những nghiên cứu trong LÃNH VỰC CHUYÊN MÔN của mình đến bạn đọc, nhiều khoa bảng Cham đã làm rất tốt. Giúp công chúng và đồng bào hiểu kỹ những vấn đề quan tâm. Công chúng, nhà hoạt động xã hội, nhà hoạch định chính sách, sẽ tự mình thấy đúng sai và quyết định chọn phương án nào để bảo tồn và phát triển hiệu quả di sản của tổ tiên. Câu chuyện AT Cham đã có kết luận từ tháng 2 năm 2007. Không ai muốn phá hoại, và phá hoại được di sản tiếng Cham khi mà người đó đang khuyến khích và cố gắng GIẢNG DẠY, TRUYỀN BÁ, VÀ SỬ DỤNG TIẾNG CHAM, dù là bằng chữ AT, Latinh hay Jawi. BBSSCC truyền bá chữ Cham tiếng Cham là một ví dụ, cũng như các lớp học chữ Cham Jawi ở các Sang Mưgik tại Nam Việt Nam, Campuchia và Hoa Kỳ. Họ đang bảo tồn tiếng Cham, chúng ta mang ơn họ, và nên tiếp tay với họ.
Khi nghi ngờ tính đúng đắn của chân lý mình đưa ra, một ít nhà khoa học cố chê bai, lên án những người có quan điểm khác. Điều đó làm bạn đọc tránh xa và càng nghi ngờ hơn tính thực tiển khả thi của nghiên cứu của họ. Chính họ tự biến nghiên cứu của họ thành thứ “hàng mã”. Vì công chúng chính là NGƯỜI THẦY KHÁCH QUAN có thể đánh giá được đúng sai các nghiên cứu để tự áp dụng vào cuộc sống, hoặc chỉ để đọc cho vui.

Ha Uy Di, Bal Kate thun 2011
Phuơl dhar Kate Champa 2011
Phụ lục 1 Inư, takai Akhar Thrah Cham dùng trong sách BBSSCC.
Phụ lục 2 Trích đoạn bản chép tay Akhar Thrah trong Inulang Aymonier-Cabaton 1906.

Vedeo Cham:

Thursday, 23 August 2012

Thank you note from Hadai Bhang Champa 2012

Words from the bottom of heart!!!
July 26, 2012

Salam People of Champa Community,

Thank you for participating in “The 7th Annual Cham Youth Camp” at San Lorenzo Regional Park, California! Thank you for your support and encouragement throughout the event. It was such a meaningful and full-of-fun event. We hope that you had a fond time at the camp and will be able to stay in touch with old and new friends.

The main day of the event fell onto Saturday, July 7, 2012, as the campground was occupied by countless number of tents creating the Little Champa Village. That Saturday morning was like our traditional Champa festival day in the village back in homeland—Panduranga/Phan Rang, Vietnam. The morning sun rays poured through the village bringing along the breeze and the flow of sweet Champa melodies echoing from little boombox. The sound of Champa drum is produced nonstop inviting all the Champa to gather at the center of the Little Champa Village, headquarter camp. Little kids were running around, giggling innocently while some elders were enjoying the festivity scene. Almost every Champa men and women, young girls and boys showed up in new, colorful and beautiful traditional Champa dresses, getting ready for the opening ceremony. We gathered altogether in front of headquarter camp where the flags of United of America and Cham Youth Camp blowing along the breeze, to meet and greet old faces, new faces. Some elders were in tears as seeing everyone especially young girls and boys holding and waving the flags of Cham Youth Camp highly and shouted proudly and continuously, “Champa! Champa! Champa!”.

A joyful yet sentimental morning! And the chain of happiness was carried throughout the programs until the last goodbye moment and all 3 or 4 generations intermingled nicely. From traditional fashion show by little Cham Angels to traditional fan dances by the Cham girls, men and women were in a friendly circle. From endless Kodak moments to having lunch and enjoying the Champa food together. From learning basic Champa language, learning the fan dance and how to play the drum, to singing a group song “Khik Bhum Pasai”-a song that was sung through out the day randomly. From hiking, crossing, swimming in the river to deer racing, tug of war, soccer and volleyball. From the first ignition to the last light of bonfire under starry night with trivia games and talent show. From the moment observing Sunday morning dews to sipping cup of coffee to the last goodbye moment. We all stood close to each other, be proud of who we are, and our heritage. This therefore has made “The 7th Annual champ Youth Camp” so unforgettable!

For the event to be so successful, we’d like to give big thanks to all the guests, from the states and abroad, for attending the event. Thanks to individuals who provided financial support, made general contributions or gifts, for Cham Youth Camp 2012 or purchasing Cham Youth Camp t-shirts for fundraiser. Thanks also to individuals who couldn’t come but sent warm regards and wishes plus general contributions, especially the elders who could not join us due to health conditions. We would also like to thank the 3 young Champa men--Magul, Tuan and Loc--who represent Champa in the U.S. Army. They are currently in the territories of war but kept sending us warm messages while following up on the camp events. The camp was so much fun and we wished they were there to enjoy it with us. But duty is duty, be safe.

We would like to extend our thanks again to all our advisors and staff for their hard work in leading us at Cham Youth Camp 2012. Much appreciation and respect to my dad-wa Tho, to cei An and ai Kevin, thanks for lending us the houses when needed for meetings or dance practices, and cei Loc for not only lending us the generator, and spending the whole Friday night to fix and get it to work, so it could shine the whole Champa Village at campground. Thanks to ai Can, a Champa historical researcher, who flew all the way from Hawaii and gave a brief yet great lecture, with enthusiasm, about the history of Champa language and how we should keep the language alive and flowing. Thanks to Thomas for his diligent work from the initial preparation and campsite reservation, to later fun and great sporting activities, and the last light of the bonfire. Thanks also to ai Cang, Nguyen, Nuh, Tinh, and Tue for their helpful, well done work behind the scenes in transportation and campsite set up and organization, plus other important tasks. Thanks Tuan for this year’s unique T-Shirt design, ai choa Vinh, ai Phu, ai Mal, ai Qasem, ai Sang, Duc, Yasmeen and Kimvui for keeping the programs flowing smoothly. Thanks to all my little Cham Angels for your charm and enthusiasm when were asked and come for dance performance. Also, for the most important task with much efforts of all, cooking and providing delicious, traditional Champa food-goat soup and eggplant curry all day long, thanks to nai Nah, ai Trang, ai Du, and Katie, my mom-wa O and all the Champa mothers and sisters.

Finally, thanks to our parents and family for the continuous support and encouragement through the whole experience. And thanks to all of individuals who helped us prior to the event and to you campers who helped with many areas of service through out the three days, doing many tasks we may not have even known about!

To continue the tradition of Cham Youth Camp, we are glad to announce that the next camp might take place at either Sacramento or Seattle area and will be in charge by the Cham Youth in the area chosen. We wish them the best and we are more than happy to provide support when needed. A detail of future camping event will be announced via email and online. Any feedback or suggestions to improve the event is welcomed and appreciated. Please email to reginakieu@yahoo.com with your observations and ideas.


We hope that the tradition of having Cham Youth Camp during July 4th weekend will continue, so that our Champa communities around the world can meet to create a closer and stronger connection as well as to exchange and carry on the beliefs and values of our Champa heritage. We hope that the elders keep supporting and guiding us to a brighter Champa future. We hope that our young upcoming generations be blessed and not take for granted these opportunities provided to them. In order to be tolerant of different backgrounds and religions, we hope to reach out and hold hands tightly among the Champa around the world to build a stronger and brighter future for the Champa. We come together and look forward with love and respect. We continue on, we grow, and we prosper!

Again, thank YOU for making “The 7th Annual Cham Youth Camp” a success. This Cham Youth Camp is Made Possible by Supporters Like You.

With much love, respect and appreciation,

Regina Kieu
Lead Organiser of Cham Youth Camp 2012

 

Harak đua phôl Hadai Bhang Champa 07-07-12

Lời tự trái tim luôn súc động lòng người!!!
July 26, 2012
Salam Mik Wa,

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quí vị đã đến tham dự "Trại Hè Thanh Niên Champa Lần Thứ 7" tại Công Viên San Lorenzo, Cali! Cảm ơn quí vị đã ủng hộ và khuyến khích suốt thời gian qua. Trại hè vừa qua rất thu hút, đầy ý nghĩa và trọn vẹn niềm vui.  Chúng tôi hy vọng quí vị có phút giây tuyệt đẹp ở trại hè và sẽ liên lạc thuờng xuyên với những người bạn cũ và mới.
 
Trại hè năm nay rất lý thú và nhộn nhịp khi rơi vào Thứ 7, Ngày 7 Tháng 7, 2012 và sân trại tấp nập với vô số lều đã dựng lên tạo thành ngôi Làng Nhỏ Champa. Buổi sáng thứ 7 như là ngày lễ ở tại quê nhà-Panduranga/Phan Rang, Việt Nam.  Những tia nắng ban mai ào xuống khu làng mang theo làn gió mát và những giọng hát thánh thót với tình khúc Champa vang vọng từ chiếc mấy phát thanh nhỏ. Những tiếng trống vang vội không ngừng mời gọi tất cả bà con Champa đến trại hè trung tâm trong ngôi Làng Nhỏ Champa. Những em thơ ríu rít chạy nhảy vui đùa và người người hớn hở trước cảnh mùa xuân tươi. Hầu hết tất cả những người lớn và trẻ em hân hoan chào đón lễ khai mạc với chiếc áo cổ truyền Chăm. Bà con tụ tập tại nơi trại chính, nơi có lá cờ Mỹ và lá cờ Trại Hè Thanh Niên Champa đứng bay bay nghiêng nghiêng theo chiều gió nhẹ, để gặp và chào hỏi nhưng khuôn mặt cũ, khuôn mặt mới. Một số các bác lớn tuổi đã nhỏ lệ vì thấy tất cả bà con có mặt hòa hợp lẫn nhau nhất là các em nhỏ đưa lên và vẫy cao những lá cờ Trại Hè Thanh Niên Champa và hô to khẩu hiệu đầy tinh thần và tình đoàn kết, "Champa! Champa! Champa!"

Buổi sáng ấy đầy những niềm vui và nước mắt hạnh phúc. Sợi chuỗi hạnh phúc ấy đã truyền qua từ chương trình này đến chương trình nọ cho đến phút giấy lưu luyến chia tay và 3 hay 4 thế hệ đã hòa hợp lẫn nhau rất trọn vẹn. Từ biểu diễn thời trang bởi các em nhỏ, và tất cả bà con đã đứng xung quanh trong vòng tay bè bạn. Từ những phút giây chụp hình lưu niệm cho đến buổi ăn trưa thưởng thức các món truyền thống. Từ giờ học tiếng Chăm, học múa, học đánh trống, cho đến phút giây hùng hồn và xúc động khi hát tình khúc Chăm "Khik Bhum Pasai"-bài hát đã làm người người xúc động và hát cho đến phút chia tay. Từ những cuộc du ngoạn nhỏ qua đồi qua sông bằng những bước chân hớn hở, mạnh dạn, tắm suối bắt cá hai tay cho đến phút giây thần tiên của các em nhỏ trong cuộc thi đua hươu, hay những cuộc chơi nam nữ bình đặng thi nhau qua những cuộc kéo co, đá banh hay bóng chuyền và hơn thế nữa. Từ ngọn lửa đầu cho đến ngọn lửa cuối của lửa trại dưới đêm trăng sao với những cuộc chơi hái hoa dân chủ và hát cho nhau nghe. Từ phút giây ngắm những sương mai của ngày Chủ Nhật, nhăm nhi tách cà phê cho đến phút giây lưu luyến chia tay. Tất cả bà con đã đứng gần nhau, tự hào với dân tộc và những di sản Champa. Những diễn biến ấy đã làm  "Trại Hè Thanh Niên Lần Thứ 7" thật trọn vẹn và khó quên.

Để đạt được sự thành công ấy, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các quan khách, từ nhiều tiểu ban và hại ngoại, đã đến tham dự. Cảm ơn đến những quí vị đã bảo trợ tinh thần đến vật chất cho Trại Hè Thanh Niên Champa 2012 hay quyên góp bằng cách mua những chiếc áo Cham Youth Camp lưu niệm. Cảm ơn đến quí vị nhất là các "wa lớn tuổi" dù không đến tham dự được vì sức khỏe không cho phép, đã gửi lời hỏi thăm với những lời chúc tốt đẹp và những phần yểm trở. Cảm ơn các bậc phụ huynh đã không ngần ngại lẫn lội đường xa nóng bức mùa hè, đưa các em đến tham dự. Chúng tôi cũng xin cảm ơn 3 thanh niên Champa--Magul, Tuấn và Lộc, người đại diện cho Champa trong quân đội Mỹ và hiện tại đang đống quân ở những lãnh thổ chiến tranh nhưng vẫn theo giõi và gởi lời nồng ấm đến trại hè. Trại hè rất nhộn nhịp và chúng tôi cũng không quên và rất mong các bạn cùng chung vui lúc ấy. Nhưng trách nhiệm của nước vẫn phải là hàng đầu, bình an nhé.

Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban cố vấn và thành viên cho những cống hiến để thực hiện được Trại Hè Thanh Niên 2012. Những lời kính mến xin gửi đến ba tôi-wa Thọ, cei An và ai Kevin và cảm ơn đã cho các con, các em những lời khuyên hữu ích, và cho tập hợp tại nhà cho những cuộc họp và tập văn nghệ, và cảm ơn cei Lộc đã không những cho mượn mà còn sửa chữa suốt đêm chiếc mấy câu điện, để có thể tỏa sáng Làng Nhỏ Champa ở sân trại. Cảm ơn ai Cẩn đã cống hiến bài giản ngắn nhưng rất thú vị về lịch sự ngôn ngự Champa và làm thế nào để giữ gìn ngôn ngữ sống mãi. Cảm ơn Thomas đã giúp đỡ rất nhiệt tình từ phút đầu-đến thăm và mướn sân trại tươi mát, đến các phần trò chơi thể thao lý thú, và cho đến phút ngọn lửa cháy cuối cùng của trại hè. Cảm ơn ai Căng, Nguyên, Nuh, Tỉnh, và Tuể đã cống hiến rất nhiều từ phần chuận bỉ và di chuyện đồ cho trại hè và nhiều việc khác. Cảm ơn Tuấn đã tạo ra nhãn hiệu rất độc đáo cho chiếc áo lưu niệm năm nay, ai choa Vinh, ai Phu, ai Mal, ai Quasem, ai Sang, Duc, Yasmeen và Kimvui đã làm cho chương trinh trôi chảy rất xuông xẽ và xuất sắc. Cảm ớn các bé nhỏ Thần Tiên Champa cho những nét khả ái và nhiệt tình khi được hỏi và cống hiến những màn múa, biểu diễn thời trang Champa rất dễ thương. Và cho công việc cao cả và mệt nhọc nhất, chuận bị những món ăn rất ngon, truyền thống Champa cho cả ngày như món "iaa nút lo baey, cà ri pauh traung", cảm ơn nai Nah, ai Trang, ai Du, Katie và mẹ tôi- wa Ô và tất cả những người mẹ, chị em Champa.

Và cuối cùng xin cảm ơn cha mẹ và gia đình chúng tôi đã ủng hộ và khuyên khích chúng tôi trong thời gian qua. Và cảm ơn tất cả những người bạn và quan khách đã giúp những công việc trước hay ngây tại trại hè 3 ngày liên tiếp, có thể có rất nhiều người mà chúng tôi chưa có cơ hội để biết đến.

Để tiếp tục duy trì Trại Hè Thanh Niên Champa, chúng tôi rất hân hạnh thông báo trại hè kỳ tới có thể diễn ra ở Sacramento hay Seattle và do ban thanh niên Champa tại vùng ấy phụ trách. Xin gửi đến họ những lời chúc tốt đẹp nhất và chúng tôi sẵn sàng hợp tác và giúp đỡ khi cần thiết. Chi tiết về trại hè kỳ tới sẽ được thông báo qua email và trên mạng sau. Để cập nhật những danh sách email và tiếp cận với tất cả bàn con Champa dễ dàng hơn, xin hãy trả lời cung cấp email của bạn, thành viên trong nhà, và bạn bè. Rất hoan nghênh những ý kiến cho trại hè để ngày càng phong phú và khác lạ hơn và xin hãy email đến reginakieu@yahoo.com.

Chúng tôi hy vọng rằng truyền thống Trại Hè Thanh Niên Champa rơi vào cuối tuần của ngày lễ 4 Tây Tháng 7 sẽ tiếp nối lâu dài, để các cộng đồng Chăm khắp thế giới có thể kết nối gần và mạnh mẽ hơn và để trao đổi và tiếp nối những tư tưởng và giá trị di sản văn hóa Champa. Chúng tôi hy vong những bậc anh chị và các "wa" sẽ tiếp tục ủng hộ và huớng dẫn tụi em, tụi cháu để đi đến tương lai tươi sáng. Chúng tôi hy vọng những bạn trẻ và thế hệ sau thấy được sự may mắn và không đánh mất những cơ hội được tạo ra cho họ. Và xóa bỏ những dị biệt về tôn giáo, điạ phương, và hội đoàn với phương châm, "chấp nhận sự khác biệt tạm thời về quan điểm để cùng nhau đoàn kết", chúng tôi hy vọng sẽ tiếp cận với tất cả đứa con Champa và cùng cầm tay nhau, trao đổi, giúp đỡ nhau trong học tập, làm ăn, xây dựng gia đình trong mục tiêu tạo sức mạnh tổng hợp, hầu một phần nào đóng góp trong công cuộc nâng cao mức sống bà con Champa ngày càng tốt đẹp hơn. Chúng ta đến với nhau và nhìn về một hướng với lòng kính mến và trân trọng. Chúng ta tiếp tục, chúng ta phát triển, và chúng ta thành công.
Và một lần nữa, xin chân thành cảm ơn QUÍ VỊ đã cống hiến cho "Trại Hè Thanh Niên Champa Lần Thứ 7" thành công mỹ mãn. Trại Hè Thanh Niên Champa Thực Hiện được là từ những Người Ủng Hộ như Quí Vị.

Với sự kính mến, trân trọng, và biết ơn, 

Regina Kieu
Trưởng Ban Tổ Chức Trại Hè Thanh Niên Champa 2012

Thursday, 16 August 2012

Làm gì để con cháu Champa nói được tiếng mẹ đẻ

Harak su-uuk ka Bidang Panôc Champa di II, pak San Jose Cali Harei 1/9/2012
PhD candidate Can Quang
Salam Andrew Tu Pô di Ginum Biai Pachaan Linưk Ilimô Bhaap Paxa Champa song adei xa-ai mikva,
Likuv biai mưng xap yuôn, kayua xap Cham drei vak tabiak,mưnuis pôc tôk oh hu abih ar.
Tôi đã nhận được thư mời riêng, xin được hồi âm.
Tôi không chắc là mình có thể tham dự được cùng các anh. Xin có vài lời bàn bạc:
Mục tiêu của hội luận các anh đua ra là rất thiết thực và vĩ đại nhưng cần khả thi:

1/. Hội Luận Champa lần thứ II là diễn đàn nhằm đưa ra nhữngquan điểm mang tính cách xây dựng và những giải pháp mang tính cách thiết thực hầu làm thế nào để dân tộc Chăm còn tồn tại trong thế kỷ 21 này.

Tuy nhiên, thời gian hội luận là 3,5 giờ cho một đề tài khá rộng. Hơn thế nữa, trong hạn hẹp thời gian đó lại thêm phần tổng kết hoạt động của Hội Đồng Phát triển Van Hóa Xã Hội Champa. Bầu chọn Tân Ban Chấp Hành và biểu quyết những phương hướng hoạt động của Hội Đồng cho nhiệm kỳ II (2013-2017) chắc chắn phải cần thời gian phù hợp cho sự hiệu quả và chất lượng.

Dù nhìn nhận vấn đề có thể có những khác biệt nhưng nhìn vào mục tiêu làm việc và thời lượng để thực hiện công việc thì tôi xin tỏ lòng cảm phục sự can đảm của ban tổ chức và xin chúc các anh quyết tâm lớn để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ các anh đã đặ ra.

2/. Cần giới hạn chủ đề. Chúng ta nên tập trung bàn về nhữngvấn đề có liên quan đến mọi người, mọi nhà, khả thi, trong khả năng và điều kiện chúng ta hiện có. Trước và sau cuộc hội luận chúng ta có thể thấy được hướng đi, thấy được sự tiến bộ và chúng ta có thể phân công người phụ trách.Người phụ trách phần việc đó có thể thực hiện được. Do đó không nên mất thời gian vào những bàn luận chung chung và nhất là không tìm cách đổ lỗi cho người khác, cho lịch sử, hay cho ai đó về thất bại của chúng ta. Tự chịu trách nhiệmvề mọi thất bại của dân tộc, bản thân và gia đình mình và tìm giải pháp khắc phục dần. Vì đổ lỗi cho người khác thì ai đó chứ không phải mình phải sữa chửa và khác phục hậu quả. Để mưu cầu lợi ích cho dân tộc hãy học ở người Mỹ, họ đã hợp tác với những cựu thù vì lợi ích và tương lai nước Mỹ.

3/. Nên chăng, nhìn thẳng vào vấn đề: CON CHÁU CHÚNG TA ĐANG ÍT NÓI hoặc KHÔNG NÓI TIẾNG CHAM NỮA, chúng đang hằng ngày, hằng giờ trở thànhngười Mỹ, Việt, Pháp, Mã, Khmer, Trung Quốc,… Bản thân chúng ta, cũng đang giao tiếp (ngôn ngữ viết) bằng tiếng Việt, đã là một nữa người Việt (chỉ 50% là Cham). Chúng ta phải làm gì để làm chậm hoặc ngưng quá trình mất gốc này? Trên 300 sắc tộc định cư tại Hoa Kỳ đã mất gốc, liệu người Cham con cháu chúng ta bước đầu định cư tại Hoa Kỳ có  tránh khỏi mất gốc không? (tại sao? Làm gì và làm thế nào? Cho bản thân và con cái chúng ta bảo toàn bản săc và phát triển). Mất gốc là mất hết, vậy chúng ta đã có giải pháp gì để:

a/. Tiếng Cham trở thành tiếng giao tiếp có hiệu quả chưa (cả nói và viết) như là tiếng Việt, Anh, Pháp… chưa?

b/. Con cháu chúng ta có thể nghe, đọc được tiếng Cham ở mọi lúc mọi nơi chưa? để chúng có thể học và áp dụng giao tiếp bất kỳ lúc nào chúng thích.

c/. Nuôi dưỡng lòng tự hào là Champa chưa? nuôi dưỡng lòng tự hào về con người và tiếng nói Cham chưa?

d/. Tạo môi trường thông thoáng (kêu gọi sự trợ giúp của cácchính phủ, tổ chức phi chính phủ, và mạnh thường quân) cho phát triển tiếng Cham chưa? (cả nói và viết). Mở trường lớp nói và viết tiếng Cham chưa?

Nếu chưa có giải pháp cho các vấn đề trên thì chúng ta đừng nên phí phạm thời gian nữa. Vì con cháu chúng ta sẽ không còn là Cham nữa.Chúng ta đang làm công dã tràng. Như ông bà Cham ta nói “bao điik gang” nghĩa là con ốc sên leo cột, ngày leo lên, đêm tụt xuống do sương ướt, cứ vậy leo lên rồi tụt xuống mãi, sẽ không đi đến đâu cả.

Dù gì đi nữa cũng xin gởi nơi đây lòng cảm phục sự dũng cảm và trách nhiệm cao cả của các thành viên trong ban tổ chức và trong Hội Đồng đối với dân tộc Champa. Cứ làm những gì các anh thấy cần thiết, vẫn hơn là không làm gì cả.

Honolulu, 12/8/12, Ths. Can Quang

Monday, 16 July 2012

Tín hiệu vui từ Hadai Bhang Champa (Trại Hè Champa) 2012


Ngày 7 tháng 7 năm 2012 tại thành phố King City, tiểu bang California đã có một Hadai Bhang Champa đầy ý nghĩa, ấn tượng, và khó quên. Hơn 300 người Chăm từ khắp các tiểu bang tại Hoa Kỳ cùng đến tham gia, vượt đường xa, quên cái nắng, cái rét, cùng nhau làm nên một Hadai Bhang Champa 2012 thành công tuyệt vời.

Cùng vời những trò chơi sôi động, các cháu có dịp ôn lại bài hát cộng đồng, các điệu trống ginang, tiếng nói chữ viết của cha ông Champa. Nhiều dân tộc di trú đến Mỹ đã quên tiếng mẹ đẻ và trở thành người Mỹ. Nhìn con cháu chúng ta nói chuyện, và vui chơi, nỗi lo mất gốc đã níu các cha mẹ ngồi lại với nhau cùng với bao câu hỏi được đưa ra, bàn bạc trong tương kính, thân thương mưu tìm những điều tốt đẹp cho cộng đồng Champa. Một số ý kiến sơ khởi được đưa ra cũng xin được chia sẻ:

1/. Chấp nhận khác biệt: Chúng ta cần tồn tại và phát triển, do đó chúng ta cần HỢP TÁC với các cộng đồng trong và ngoài Champa. Nhiều hội đoàn xã hội và tôn giáo là điều tự nhiên của mỗi cộng đồng. Người Việt hay người Champa ở Mỹ cũng đều như vậy, mỗi nhóm tự quyết định giải pháp của mình để bảo tồn và phát triển. Để hợp tác được tốt trong các hoạt động chung như Hadai Bhang Champa các thành viên cần hiểu biết, thông cảm cho sự khác biệt và tôn trọng nhau. Ví dụ: có ý kiến cho rằng “tôi không đồng ý với Ban Biên Soạn, hay Hội Bảo Tồn…” không còn phù hợp vì thể hiện sự không chấp nhận khác biệt. Nói “không đồng ý...” là không cần thiết, đó chính là rào cản cho sự hợp tác. Mỗi địa phương hay cá nhân có quyền chọn phương án để con cháu họ khỏi bị đồng hóa. Để diển tả tiếng Cham, ở Ninh Bình Thuận chọn mẫu tự Akhar Thrah, Tây Ninh, Châu Đốc và Campuchia chọn mẫu tự Jawi, và Cham Bình Định, Phú Yên chọn mẫu tự Latinh, là khác biệt cần tôn trọng. Đối với cộng đồng Champa tại Mỹ, yêu thương (anit ranam), tôn trọng (pôk ja) và thông cảm tha thứ (neh xari) sẽ bẻ gẫy những rào cản vô hình giữa các cá nhân và hội đoàn tạo tiền đề cho Champa ở Mỹ thành cộng đồng vững mạnh.

2/. Vai trò của nhà khoa học: Để việc bảo tồn và phát triển được tốt, chúng ta cần các nhà khoa học như là những cố vấn chuyên môn. Nhà khoa học đưa ra những giải pháp tốt nhất, khách quan, khả thi và hiệu quả nhất cho những vấn đề quan tâm. Những kết luận đó sẽ được công chúng, nhà hoạt động xã hội, chính trị đánh giá đúng sai và áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của cá nhân, cộng đồng mình. Nếu nhà khoa học nào tự khen nghiên cứu mình là chân lý khách quan nhất, chê bai và thậm chí còn lên án kết án những quan điểm và ý kiến khác với họ, là vì không tự tin vào phương án của họ. Hữu xạ tự nhiên hương, nếu lý thuyết nào đó đúng đắn thì tức khắc sẽ được chọn lựa. Nếu không tự tin chúng ta nên nghiên cứu lại để được đúng đắn hơn. Vai trò của nhà khoa học là đưa ra giải pháp để, công chúng và nhà hoạt động xã hội, đánh giá đúng sai, quyết định làm hay không làm.

3/. Vai trò của nhà hoạt động xã hội: Là những lãnh tụ các tổ chức, hội đoàn, họ chăm lo cho sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng. Họ có quyền cùng các thành viên bàn bạc và quyết định chọn giải pháp cho bảo tồn và phát triển cộng đồng. Giải pháp đó không bi chi phối bởi nhà khoa học. Nếu điều này bị vi phạm, thì lợi ích của cộng đồng đó đang bị thiệt hại, và cộng đồng đó đang phục vụ cho lợi ích riêng của nhà khoa học. Vận mệnh của một cộng đồng do chính họ tự quyết định sau khi tham khảo ý kiến của nhiều nhà khoa học để được khách quan và hiệu quả nhất.

Qua tín hiệu vui từ trại hè này, hy vọng cộng đồng Champa chúng ta biết rõ phải làm gì để chúng ta thương yêu nhau, tôn trọng nhau, và tha thứ thông cảm cho nhau nhiều hơn, mở ra một vận hội mới, phát triển bền vững cho cộng đồng và cho dân tộc. Nếu có những gì đã qua không vui, xin hãy để cho nó qua đi. Vì tương lai dân tộc Champa, chúng ta đồng hành với nhau trong một tinh thần mới: yêu thương (anit ranam), tôn trọng (pôk ja) và tha thứ (neh xari). Hẹn gặp tại Hadai Bhang Champa Sacramento 2013.

Ths. Quang Can
 

Saturday, 2 June 2012

Chương trình tiếng Cham tại Việt Nam và hạn chế cần khắc phục

PhD candidate. Quang Can

Lời mở: Việt Nam đã có những thành tích đáng kể trong công cuộc bảo vệ và phát triển tiếng nói chữ viết của các dân tộc thiểu số. Bằng chứng hiển nhiên là những chương trình đang hiện hành được cho là rất có hiệu quả như chương trình tiếng tiếng Cham trước đây và sau này là chương trình tiếng tiếng Khmer và Hoa trong nhà trường phổ thông. Thêm vào đó các hoạt động đó xuất phát từ những kiên định chính sách của chính phủ, được quy định rõ ràng trong các điều khoản của hiến pháp và các thông tư, nghị định của chính phủ. Nhất là gần đây với sự kiện thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 1576/QĐ - Ttg vào ngày 30/11/2006 thành lập Vụ giáo dục dân tộc thuộc Bộ giáo dục đào tạo; và ra đời hàng loạt các phòng Giáo dục Dân tộc thuộc các sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh thành phố. Hơn thế nữa là nghị định 82/2010/NĐ-CP được ký ban hành vào ngày 15-07-2010 và thông tư liên tịch 50/2011/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định được ký vào ngày 03-11-2011 quy định khá cụ thể việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX). Bằng những văn bản pháp qui cụ thể nêu trên, chính phủ Việt Nam đã chính thức khai thông con đường bảo tồn và phát triển tiếng dân tộc được thông thoáng, chuyên ngiệp và bài bản hơn. Song song với tín hiệu đáng mừng đó, nỗi lo thường trực cứ mãi ám ảnh những người đang thực hiện chương trình tiếng Cham, do sự bất cập kéo dài giữa các văn bản quy định và sự chỉ đạo thực hiện; sự chênh lệch giữa việc thực hiện chương trình tiếng Cham và các chương trình tiếng dân tộc khác. Thực chất điều này đã gây hại cho những thành quả đã đạt được, vô tình gây lãng phí lớn tiền bạc của chính phủ và công sức của các em học sinh (HS) Cham, và nhất là làm mất long tin của đồng bào Cham với những điều tốt đẹp mà chính phủ đã dành cho dân tộc Cham. Để hiểu rõ thực trạng và tác hại của những bất cập này, thử nhìn lại cấu trúc và mục tiêu của cách chương trình song ngữ tại Việt Nam, đối chiếu với những thành tựu về lý luận và thực tiển trong lĩnh vực giáo dục tiếng mẹ đẻ hầu tìm ra mô hình hiệu quả, và khả thi cho giáo dục tiếng Cham trong nhà trường.

Mục tiêu của chương trình giảng dạy tiếng mẹ đẻ: Thông thường mục tiêu của chương trình song ngữ hay tiếng mẹ đẻ là: (1) giúp HS dân tộc thiểu số học tốt tiếng phổ thông; (2) bảo tồn tiếng mẹ đẻ của dân tộc thiểu số. Tùy thuộc vào nội dung và mô hình cấu trúc của các chương trình mà chúng ta có thể nhận ra những mục tiêu chi tiết hơn nhưng vẫn quy vào mục đích cuối cùng là thực hiện chỉ mục tiêu (1) hay cả (1) và (2). Để thực hiện muc tiêu (1), chương trình thường chỉ kéo dài nhiều nhất là 1 đến 3 năm, nội dung tương ứng với chương trình trong tiếng phổ thông, từ 2 tiết đến 4tiết /tuần. Ví dụ: như các chương trình song ngữ chuyển tiếp hay quá độ (transitional program) dạy lại các bài tương ứng, các môn học tương ứng bằng tiếng mẹ đẻ của HS. Buổi học từ 1 đến 4 tiết/tuần, có thể kéo dài một học kỳ, hay nhiều hơn cho đến khi nào HS đủ khả năng tham gia trực tiếp các lớp đó bằng tiếng phổ thông; thường kéo dài không quá 3 năm (Ovando, 2003). Ngược lại, để thực hiện mục tiêu (1) và (2), bảo tồn tiếng mẹ đẻ và học tốt chương trình tiếng phổ thông. Chương trình chiếm ít nhất 4 tiết,hay một buổi, hay nhiều nhất là 5 buổi/tuần và thường phải kéo dài từ 9 đến 12 năm. Thời lượng chương trình từ 4 tiết /tuần cho đến toàn thời gian học bằng tiếng mẹ đẻ, ngoại trừ 4 tiết tiếng phổ thông hằng tuần. Nội dung các môn học cập nhật từ chương trình tiếng phổ thông (Ovando, 2003; Slaughter, 1997). Ví dụ như chương trình một buổi học/ tuần bằng tiếng Hoa, Mã, hay Tamil cho HS thiểu số, cùng với chương trình phổ thông bằng tiếng Anh tại Singapore từ lớp 1 đến hết cấp trung học (Singgapore Education, 2003); Chương trình toàn thời gian tiếng Hawaiì, trong trường phổ thông Anuenue Hawaiian Immersion School tại tiểu bang Hawaiì, Hoa Kỳ từ lớp mẫu giáo đến 12 học chương trình phổ thông bằng tiếng Hawaii. (Baker, 2006)

Chương trình tiếng mẹ đẻ tại Việt Nam:

Tiếng Êđê: Chương trình tiếng Êđê được bắt đầu dạy trong trường phổ thông từ năm 1995. Năm học 2010-2011, hầu hết các huyện, thị xã, thành phố đã có 76 trường TH, 497 lớp, 11.052 HS, 97 GV (tăng 89 GV so với lúc mới triển khai vào những năm 1995-1996, 3 trường, 5 lớp và 138 HS) dạy học bằng tiếng Êđê. Bậc THCS (các trường phổ thông dân tộc nội trú) đã có 12 trường, 35 lớp, 1.414 HS, tăng gấp đôi số trường so với năm học 2003-2004. Các huyện Cư M’gar, Krông Năng và TP. Buôn Ma Thuột là những địa phương có số trường, lớp và HS học tiếng Êđê đông nhất. Hiện nay đội ngũ giáo viên (GV) dạy tiếng Êđê thiếu và yếu, thường phải dạy kiêm nhiệm, mỗi giáo viên phụ trách khoảng 10 lớp. Tiếng Êđê còn được dạy cho cán bộ và giáo viên tại các TTGDTX (Anh, 2012).

Tiếng Hoa: Chương trình tiếng Hoa được chính phủ chú ý vào những năm 1995. HS được học môn tiếng Hoa tự chọn bậc tiểu học tại TPHCM, Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ và Hậu Giang, từ 3 đến 5 tiết/ tuần. Sau Nghị định 82/2010/ND-CP của thủ tướng, thời lượng được tăng lên 8-10 tiết/tuần. Tiếng Hoa bậc THCS đã thực hiện 4 tiết/tuần, nay đang dạy học thí điểm để chuẩn hóa thống nhất sách giáo khoa. Thường GV chủ nhiệm kiêm luôn việc dạy tiếng Hoa ở bậc tiểu học (Dinh, 2011).

Tiếng Khmer: Chương trình tiếng Khmer được bắt đầu từ năm 1992, được dạy từ cấp mẫu giáo đến lớp 12 tại các tỉnh có đông người Khmer cư trú ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam thuộc các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, và Bến Tre. Tiểu học tiếng Khmer được dạy 4 tiết/ tuần, cấp trung học 2 tiết/tuần. GV dạy tiếng Khmer thiếu về số lượng, mỗi GV phải đảm nhận từ 4 đến 5 lớp. Ngoài ra còn có các lớp Khmer miễn phí tại các Chùa Khmer, và các TTGDTX cho các đối tượng có nhu cầu học tập và nghiên cứu tiếng Khmer. GV dạy tiếng Khmer bậc tiểu học được đào tạo 3 tháng ở các trường cao đẳng và GV dạy bậc THCS và THPT đang đào tạo chuẩn theo chương trình đại học sư phạm (Dinh, 2011).

Tiếng Cham: Chương trình dạy tiếng Cham được thực hiện rất sớm, từ năm 1978, thí điểm và chuẩn chính tả Akhar Thrah rất thận trọng trong 10 năm. Hoàn chỉnh trước khi nhân rộng ra đại trà từ năm 1990 tại các trường tiểu học vùng Cham thuộc hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Hiện nay chương trình chỉ lên đến lớp 5, với thời lượng 3 tiết (35 phút một tiết học)/tuần. Số lượng HS tại Ninh Thuận năm 2011 là 8265, trong 341 lớp, với số GV phụ trách là 57 trong số tổng số 1051 GV được đào tạo. Do bố trí GV dạy chuyên, có trường một GV phải phụ trách khoảng 10 lớp. Chính sự bố trí GV không hợp lý kéo dài này, từ năm 2004 đã làm GV tiếng Cham không còn động lực nâng cao năng lực và nhiệt tình giảng dạy tiếng Cham. Vì không hy vọng được bố trí dạy tiếng Cham, GV không muốn tham gia các lớp đào tạo và bồi dưỡng GV dạy tiếng Cham. Bằng chứng điển hình là từ năm 2004 đến năm 2012, chỉ có 53 GV tham gia một lớp bồi dưỡng tiếng Cham tại trường đại học Quy Nhơn. Trong khi trước đó hằng năm có ba loại hình đào tạo luôn hoạt động hết công suất, cung cấp khoảng 100 GV tiếng Cham hằng năm. Các lớp tiếng Cham chuyên biệt cho cán bộ và công chức cũng đã thực hiện trên 05 lớp cho hằng trăm lượt học viên (Trai, 2008).

Nhận xét chung: Quả vậy, năm 2010 và 2011 là năm mở ra cơ hội phát triển mạnh mẽ cho các chương trình bảo tồn tiếng mẹ đẻ tại Việt Nam, thông qua Nghị định 82/ ND- CP do thủ tướng ký ngày 17/7/2010, và thông thư 50/2011/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC hướng dẫn thi hành nghị định 82, ký ngày 01/11/2011, quy định rõ ràng và cụ thể mục tiêu, nội dung, mức độ và trách nhiệm thi hành chính sách dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số trong trường phổ thông và TTGDTX. Đây chính là chiến lượt phát triển kinh tế xã hội đúng đắn và sang suốt. Chính kim chỉ nam này đã mở đường cho các chương trình tiếng Hoa và Êđê phát triển hiệu quả và đúng hướng; khẳng định tính đúng đắng của chương trình tiếng Khmer; và chỉ ra một số chương trình còn nhiếu yếu tố bất hợp lý, gây lãng phí lớn công sức của GV, HS và tài sản của chính phủ. Một trong các chương trình đó tỏ ra tụt hậu, đuối sức không theo kịp yêu cầu của đồng bào thiểu số và định hướng của chính phủ là chương trình tiếng Cham. Chương trình tiếng Cham có khiếm khuyết gì, xin được dẫn lời của những người đang thụ hưởng nguồn lợi của chương trình, nhận định của những nhà chuyên môn, và tổng kết của Bộ giáo dục và đào tạo.

Tổng kết của Bộ giáo dục và đào tạo: Theo đánh giá của Hội nghị tổng kết dạy tiếng DTTS trong trường phổ thông, do Bộ GD& ĐT tổ chức tại Nha Trang ngày 14/10/2011. Tại Hội nghị nhận định của Thứ trưởng Bộ GD& ĐT Nguyễn Thị Nghĩa: “Bước ngoặt xoay chuyển sự phát triển mạnh của việc dạy tiếng DTTS là ngày 15/7/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2010/NĐ-CP quy định việc dạy học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở GD phổ thông và trung tâm GD thường xuyên”. Điều kiện để phát triển giáo dục tiếng mẹ đẻ hiện nay hoàn toàn thuân lợi, ngoại trừ: “Khó khăn lớn nhất của công tác dạy học tiếng DTTS hiện nay là đội ngũ GV thiếu và yếu” (Dinh, 2011).

Nhận định của những nhà chuyên môn: Để thành công HS dân tộc cần: thành thạo Kỹ Năng Giao Tiếp Cơ Bản (Basic interpersonnal communicative skills) để giao tiếp tiếng Việt và thành thạo Nhận Thức Ngôn Ngữ Học Thuật (Cognitive academic language proficiency) để tiếp thu kiến thức bằng tiếng phồ thông, tiếng Việt (ngôn ngữ thứ hai). Hai mục tiêu trên đây là mục tiêu di động mà HS Cham phải bắt kịp với HS bản ngữ tiếng Việt (ngôn ngữ thứ hai) (Cummins, 1981, 1982, 1992). Tuy nhiên theo kinh nghiệm thực tiển và nghiên cứu lý thuyết: các kỹ năng, khái niệm, và kinh nghiệm đạt được trong tiếng mẹ đẻ sẽ chuyển hóa sang ngôn ngữ thứ hai (Goldenberg, 2008). Chính vì vậy mà các HS trong chương trình tiếng Cham (tiếng mẹ đẻ) có thành tích học tập tiếng phổ thông tốt hơn các HS khác. Ví dụ: năm học 2010-2011, tỷ lệ HS có điểm trên trung bình môn tiếng Việt lớp 5 tại Thuân Nam là 95%, Ninh Thuận là 94%, tại trường tiểu học Vụ Bổn là 100%; Môn toán tương ứng là: Thuận Nam, 94%, Ninh Thuận, 91%, tại trường tiểu học Vụ Bổn là 100% (số liệu trong báo cáo cuối năm của Sở GDDT Ninh Thuận). Trong khi Kỹ Năng Giao Tiếp Cơ Bản (KNGTCB) và thành thạo Nhận Thức Ngôn Ngữ Học Thuật (NTNNHT) của các em HS Cham cần 6 đến 9 năm mới hoàn thiện. Khi lên đến Trung họ cơ sở (THCS), KNGTCB và NTNNHT của HS Cham chưa ngang bằng với HS bản ngữ Việt. Không có chương trình tiếng Cham cấp THCS tiếp sức, khiến cho cầu nối các kỹ năng, khái niệm, và kinh nghiệm tiếp thu được từ môn tiếng mẹ đẻ không còn nữa. Các em HS Cham gặp khó khăn trong việc tiếp thu các kiến thức trong các môn học tiếng Việt. Điều này hoàn toàn không gặp ở HS Hoa, Khmer, và Êđê, vì các em đó đã có chương trình tiếng mẹ đẻ ở THCS, và THPT hổ trợ.

Nhận định của những người đang thụ hưỡng nguồn lợi của chương trình: Trong nghiên cứu gần đây về tính hiệu quả của chương trình tiếng Cham tại Ninh Thuận cho thấy: cả GV, chuyên gia giáo dục, phụ huynh và HS đều thừa nhận rằng, HS Cham ở bậc THCS học yếu hẳn. Điều này thể hiện qua số liệu kết quả học tập của từng em HS, lớp, trường, xã, huyện và tỉnh. Tỷ lệ các em HS Cham ở lại lớp và bỏ học tăng cao nhất ở bậc học THCS. Phụ huynh các em HS Cham này cũng thừa nhận rằng các em chưa hoàn toàn giao tiếp thông thạo tiếng Việt. Nhiều giải pháp đã được thực hiện là tăng cường phụ đạo như là phụ đạo HS yếu. Thực chất đây là nguyên nhân của rào cản ngôn ngữ, nên các giải pháp nêu trên ít có tác dụng. Nên chăng, theo đề nghị của cộng đồng Cham và các nhà nghiên cứu là áp dụng giải pháp kéo dài chương trình tiếng mẹ đẻ như đã áp dụng cho tiếng Khmer, và Hoa lên đến lớp 9 hay lớp 12 (Phỏng vấn GV, Phụ huynh, HS và trí thức Cham, 2012).

Kết luận: Thành công của chương trình tiếng Cham ở Ninh Thuận và Bình Thuận là một điều rõ ràng và nổi bậc. Mỗi năm chương trình tiếng Cham bổ sung thêm cho cộng đồng Cham hàng ngàn HS thông thạo tiếng Cham. Nó không những góp phần quan trọng và tích cực trong việc bảo tồn tiếng Cham và phát triển giáo dục vùng Cham, mà còn cải thiện tích cực đời sống văn hoá kinh tế xã hội vùng Cham. Đó cũng là góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước. Tuy nhiên để tránh cho HS và GV Cham trở lại tái mù chữ Cham, và cũng là tiếp tục phát triển thành quả giáo dục  đã đạt được ở cấp tiểu học, đã đến lúc phải đưa tiếng Cham vào giảng dạy cho HS Cham cấp THCS và trung học phổ thông (THPT) như nguyện vọng của phụ huynh, HS, GV và cả cộng đồng Cham. Đó cũng là mong ước của Đảng và chính phủ đã cụ thể hóa trong nghị định 82/NĐ-CP và thông tư 50/ TLT-BGDĐT-BNV-BTC, dạy tiếng Cham cho HS Cham cấp THCS, THPT và TTGDTX cho mọi người có nhu cầu học tập và nghiên cứu tiếng Cham. Phòng giáo dục dân tộc Ninh Thuận, đã có sẵn trong tay gần (1) 1000 giáo viên Cham chưa có lớp tiếng Cham để dạy (đào tạo 1051 GV, chỉ sữ dụng 57 GV), (2) kinh nghiệm biên soạn giáo trình cho các đối tượng, trẻ em, người lớn. Điều kiện để phát triển chương trình hoàn toàn thuận lợi như tổng kết của Bộ GDĐT. Nguyện vọng của đồng bào đã hội tụ với ý chí của chính phủ, nhưng tồn đọng và trì trệ vẫn kéo dài. Chưa có dấu hiệu gì cho thấy việc đưa tiếng Cham vào THCS, THPT và TTGDTX thành thí điểm hay hiện thực. Trách nhiệm thuộc về ai? Câu trả lời xin dành cho những nhà quản lý chương trình tiếng Cham, Phòng giáo dục dân tộc, Sở giáo dục & đào tạo và UBND hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, nơi đang thực hiện chương trình tiếng Cham.

Vijaya, Bal Rija Nưgar thun 2012

Phuơl dhar Rija Nưgar Champa 2012

Tài liệu tham khảo:
Anh, N. (2012). Dạy học bằng tiếng dân tộc thiểu số. website: http://gdtd.vn/channel/2762/201201/Day-hoc-bang-tieng-dan-toc-thieu-so-1957491/
Baker, C. (2006). Foundations of bilingual education and bilingualism (4th ed.). In N. H. Hornberger (Ed.). Bilingual Education and Bilingualism. New York: Multilingual Matters Ltd.
Cummins, J. (1981). The role of primary language development in promoting educational success for language minority students. In California State Department of Education (Ed.), Schooling and language minority students: A theoretical framework (pp. 3-49). Los Angeles: National Dissemination and Assessment Center.
Cummins, J. (1982). Tests, achievement, and bilingual students, Focus, No.9. Arlington, VA: National Clearinghouse for bilingual education.
Cummins, J. (1992). Language proficiency, bilingualism, and academic achievement. In P.A. Richard-Amato & M.A. Snow (Eds.), The multicultural classroom: Readings for content-area teachers, (pp. 16-26). New York: Longman.
Đinh, L. Y. (2011). Chuyển biến tích cực trong dạy tiếng dân tộc thiểu số ở trường phổ thông. Website: http://gdtd.vn/channel/2741/201110/Chuyen-bien-tich-cuc-trong-day-tieng-dan-toc-thieu-so-trong-truong-pho-thong-1954299/
Goldenberg, C. (2008). Teaching English language learners: What the research does – and does not – say. American educator, pp. 8-111, 14-16, 17-19, 22-23, 42-43.
Khemrinh. (2012). Sóc Trăng: 50 chỉ tiêu đào tạo ĐHSP ngữ văn Khmer ngữ Nam Bộ. website http://gdtd.vn/channel/2762/201204/Soc-Trang-50-chi-tieu-dao-tao-DHSP-ngu-van-Khmer-ngu-Nam-Bo-1960381/
Ovando, C. J. (2003). Bilingual education in the United States: Historical development and current issues. Bilingual research journal, 27(1), 1-24. Arizona State University. From http://brj.asu.edu/content/vol27_no1/documents/art1.pdf
Slaughter, B. H. (1997). Indigenous language immersion in Hawai’i: A case study of Kula Kaiapuni Hawai’i, an effort to save the indigenous language of Hawai’i. In R. K. Johnson & M. Swain (Eds.), Immersion education: International perspectives (pp. 105-129). Cambridge, UK: Cambridge University Press.
Trai, L. M. (2008). Tình hình dạy và học tiếng Cham ở Ninh Thuận. Báo cáo cuối năm 2008.

Thursday, 17 May 2012

GIỖ PPO NƯGAR MƯBƠK, NÉT ĐẸP VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO

Ts Quang Can
Phía bắc thôn Vụ Bổn (Palei Pabhan) xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, khoảng 3km trên đường đến đập gạch (Binưk Kiak), ở vị trí làng Ma Vớ hay Quí Chánh cũ (Palei Mưbơk), nơi có vết tích của lò gạch dùng để xây tháp Ppo Rome, ngày nay xen lẫn với bạt ngàn rẫy thuốc lá vườn cây ăn trái dọc theo Mương Ngựa (Ribaung Asaih) có một lùm cây rậm rạp rộng khoảng hơn một sào đất, ở giữa có một cây đa cổ thụ gốc phải đến 3 – 4 người ôm, dây leo chằng chịt, tán cây xòe rộng phủ trùm cả một khoảng đất rộng, tạo nên một không khí âm u, huyền ảo, khiến người gan dạ nhất cũng phải kiêng dè khi đi qua vào lúc tối trời. Cùng với rất nhiều mẫu chuyện về sự linh thiêng của ngài, Ppo Mưbơk dần dần được dân trong vùng coi như là thần của địa phương, chỗ dựa cho đời sống tâm linh của người Chăm lẫn Kinh, được thờ phượng đều đặn, long trọng và trang nghiêm.

Nằm dưới tán cây đa rậm rạp là một ngôi đền nhỏ khoảng 16m vuông, cao 4m, mái hình bánh ú, lợp ngói âm dương rêu phong, dáng cong cánh nhạn, đứng vững chải trên bốn trụ trơn đơn giản. Chính giữa đền có một phiến đá kut tượng trưng cho ngài, được tẩy thể và mặt lễ phục vào các ngày cúng giỗ. Theo các cụ già thôn Vụ Bổn kể lại rằng: ngôi đền này được dựng lên vào thời điểm xây dựng tháp Ppo Rome, để ghi nhớ công ơn của người sinh thành ra đấng minh quân này. Ngài là một biểu tượng của thánh mẫu, người mẹ xứ sở vùng Mưbơk phía nam Pangduranga như các bà mẹ xứ sở khác trong vùng Trung Việt.

Có người cho rằng trước đây đền Ppo Nưgar Mưbơk có tượng thờ, do chiến tranh dai dẳng tàn phá và là vùng hẻo lánh nên sự cúng kiếng của dân trong vùng bị gián đoạn. Mãi sau này hậu duệ của ngài là dòng tộc Mưbơk sửa sang lại, dựng tạm đá kut để thờ giống như sự thờ cúng của một dòng tộc. Người am hiểu văn hóa Chăm thì không chấp nhận được đây là kut của dòng tộc Mưbơk, vì không có đá ppo di, đá bên nam, đá bên nữ… như mô hình các kut khác, chỉ duy nhất có một phiến đá tượng trưng cho Ppo Mưbơk. Đây chính là Ppo Nưgar Mưbơk đã bị lớp bụi thời gian và sự nghèo khó kéo dài của dân làng Vụ Bổn làm cho thánh mẫu chỉ là mẫu của một dòng tộc Mưbơk thay vì là mẫu của cả vùng nam Pangduranga như các Ppo Nưgar Hamu Tanran. v.v…

Sự hoang phế kéo dài mãi đến năm 1955 thì có cụ “ông già Nhờ” vì không có con gái, sợ mình sẽ bị tuyệt tự (theo chế độ mẫu hệ của người Chăm), đã khấn cầu với ngài mong có được một người con gái nối dõi và mang điều lành cho gia đình, xin được lợp mái ngói cho ngôi đền. Ngay năm đó vợ chồng cụ sinh được cô Mua, nay cô đã có chồng và con cái vẫn mạnh khỏe, an cư tại thôn Vụ Bổn. Gần đây được hợp tác xã nông nghiệp Vụ Bổn cấp kinh phí, ngôi đền được xây mới, khang trang, tuy không giữ được những nét cũ nhưng 4 cây cột đường kính 35cm được chạm trổ công phu vẫn còn bên đền. Hằng năm vào đầu tháng giêng, vào đầu tháng 4, và đặc biệt là vào dịp lễ Katê đầu tháng 7 theo lịch Chăm, bà con xóm Mưbơk cũ, hay tộc họ Mưbơk hiện còn giữ y trang – lễ phục của ngài, cùng toàn dân làng Vụ Bổn, cư dân các rẫy vườn lân cận (cả người Chăm lẫn người Kinh), ai có khấn cầu thường đem lễ vật dâng cúng trong ba dịp này hằng năm. Theo quy định lễ dâng cúng này gồm 5 mâm cơm và một cặp gà do ông Camưnei (ông Từ) làm chủ lễ, được truyền từ đời này sang đời khác trong dòng tộc Mưbơk; Nay ông Chín thôn Vụ Bổn là ông Từ và gia đình ông đang giữ lễ phục của ngài.

Chẳng có một di ký, hay một bằng chứng rõ ràng nào (có thể là theo chủ quan của người viết) về nguồn gốc của bà. Kẻ cho rằng bà là người làng Mưbơk, người nói bà là mẹ của vua Ppo Rome, người gốc làng Rinhoh (Ninh Hà) Phan Rí tên là Mưwa. Một hôm do ăn trúng đọt lim xanh trong rừng nên có chửa, bị cha mẹ đuổi ra khỏi nhà. Trên đường tìm nơi nương tựa, bà đến ở và sinh hạ Ja Kathaut (tên Ppo Rome khi nhỏ) tại làng Tường Loan, sau đó lần bước đến làng Hamu Biruw (thôn Lạc Trị huyện Tuy Phong) rồi đến trú ngụ, sinh sống tại làng Palei Pabhan.

Để có một kết luận thuyết phục cần thêm điều nghiên của các nhà nghiên cứu về Chăm dựa trên các tài liệu cũ, kể cả lời kể người già, và hoa văn trên y trang – lễ phục của bà hiện còn đang lưu giữ. Duy có một điều chắc chắn rằng bà là người có công lớn đối với địa phương, làm việc từ thiện, lấy việc giúp bà con làm ăn sinh sống đoàn kết hòa thuận giữa Chăm và Bàni làm trọng, đặc biệt là giữa cư dân của 4 làng lân cận trong vùng là: Nha Phân (Palei Pabhan), Chà Vin (Palei Chaping), Ma Vớ hay Quí Chánh (Palei Mưbơk) và Palei Hamu Kalauk, nay dấu tích của kut và thổ mộ (ghur) của các làng đó vẫn còn. Cả 4 làng bị tập trung lại thành làng Vụ Bổn trong thời kỳ ấp chiến lược. Để nhớ công đức lớn đó của bà người đời đã lập đền và thờ phượng.

Theo chủ trương “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” của Đảng và Nhà nước, chính quyền các cấp, các ngành chức năng không ngừng chú ý nghiên cứu, khôi phục lại hình thức lễ hội địa phương. Với quan điểm nhà nước và nhân dân cùng làm, đồng bào và Ban quản lý các thôn cùng góp của, góp công tôn tạo, bảo tồn lại những di sản tinh thần tốt đẹp, tạo môi trường giáo dục và gìn giữ bản sắc độc đáo của cha ông, điều kiện cố kết cộng đồng, đảm bảo hòa nhập vững vàng trước xu thế khu vực hóa đầu thiên kỷ mới, là sự góp phần thúc đẩy quá trình phát triển nhanh các mặt của địa phương được đúng hướng và vững chắc.

* Trong Tagalau03.